CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN 1. Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu hàng dệt may 1.1 Một số khái niệm về xuất khẩu hàng hóa nói chung Theo quy định tại Luật Thương mại 2005 36/2005/QH11, xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của Pháp luật. Xuất khẩu hàng hóa nằm trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa của một quá trình tái sản xuất mở rộng, nhằm mục đích liên kết sản xuất với tiêu dung của nước này với nước khác. Nền sản xuất xã hội phát triển như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động kinh doanh này.
Có thể nói hoạt động xuất khẩu là đặc trưng của nền kinh tế mở. Hoạt động xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Căn cứ vào đặc điểm sở hữu hàng hóa trước khi xuất khẩu, nguồn hàng nhập khẩu, có thể chia ra một số loại hình xuất khẩu mà các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng: xuất khẩu trực tiếp, hoạt động gia công xuất khẩu, xuất khẩu ủy thác, xuất khẩu theo hình thức buôn bán đối lưu, xuất khẩu theo nghị định thư.2 Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Đặc trưng quan trọng của tình hình kinh tế ngày nay là xu hướng quốc tế hóa. Nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển, mỗi nước dù lớn hay nhỏ đều phải tham gia vào sự phân công lao động khu vực và quốc tế.
Ngày nay không một dân tộc nào có thể phát triển đất nước mình mà chỉ bằng tự lực cánh sinh, đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì việc nhận thức đầy đủ những đặc trưng quan trọng này và ứng dụng vào tình hình thực tế đất nước có tầm quan trọng hơn bao giờ hết. Ở nước ta, khi xác định quan điểm lớn về công nghiệp hóa- hiện đại hóa, hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì khóa VII của Đảng khẳng 9 Luan van định “kiên trì chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả, phát huy lợi thế so sánh đất nước cũng như từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực trong từng thời kì, không ngừng nâng cao sức mạnh cạnh tranh trên thị trường đất nước, thị trường khu vực và thị trường thế giới ”. Dệt may là ngành mà sản phẩm của nó thuộc nhóm sản phẩm tiêu dùng thiết yếu nên khả năng tiêu dùng là rất lớn. Nó cũng là ngành công nghiệp nhẹ, sử dụng nhiều lao động.
Mà lao động lại không đòi hỏi trình độ cao nên không cần nhiều vốn để đầu tư. Mặt khác, khả năng thu hồi vốn nhanh nên đây là ngành phù hợp với các nước đang phát triển nơi có nhiều lao động, trình độ lao động thấp, vốn ít. Xuất phát từ bản chất thì ngành dệt may có một số đặc điểm như sau: Một là, về nhu cầu và tiêu thụ. Trong buôn bán thế giới, sản phẩm của ngành dệt may là một trong những hàng hoá đầu tiên tham gia vào mậu dịch quốc tế.
Hàng dệt may có những đặc trưng riêng biệt ảnh hưởng rất nhiều đến sản xuất và buôn bán. Nghiên cứu những đặc trưng nổi bật của thương mại thế giới về hàng dệt may là một trong những yếu tố cần thiết để tăng cường tính cạnh tranh của sản phẩm và đảm bảo xuất khẩu thành công trên thị trường quốc tế. Trong thương mại thế giới, hàng dệt may có một số đặc trưng nổi bật sau đây: - Sản phẩm dệt may là loại sản phẩm có yêu cầu rất phong phú, đa dạng tuỳ thuộc vào đối tượng tiêu dùng. Người tiêu dùng khác nhau về văn hoá, phong tục tập quán, tôn giáo, khác nhau về khu vực địa lý, khí hậu, về giới tính, tuổi tác… sẽ có nhu cầu rất khác nhau về trang phục.
Nghiên cứu thị trường để nắm bắt nhu cầu của từng nhóm người tiêu dùng trong các bộ phận thị trường khác nhau có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm. - Sản phẩm dệt may mang tính thời trang cao, phải thường xuyên thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu để đáp ứng nhu cầu thích đổi mới, độc đáo và gây ấn tượngcủa người tiêu dùng. Do đó để tiêu thụ được sản phẩm, việc am hiểu các xu hướng thời trang mới là rất quan trọng. 10 Luan van - Một đặc trưng nổi bật nữa trong buôn bán sản phẩm dệt may trên thế giới là vấn đề thương hiệu.
Mỗi nhà sản xuất cần ra được một nhãn hiệu thương mại của riêng mình. Nhãn hiệu sản phẩm theo quan điểm xã hội thường là yếu tố chứng nhận chất lượng hàng hoá và uy tín của người sản xuất. Đây là vấn đề cần quan tâm trong chiến lược sản phẩm vì người tiêu dùng không chỉ tính đến giá cả mà còn rất coi trọng chất lượng sản phẩm. - Khi buôn bán các sản phẩm dệt may cần chú trọng đến yếu tố thời vụ.
Phải căn cứ vào chu kỳ thay đổi của thời tiết trong năm ở từng khu vực thị trường mà cung cấp hàng hoá cho phù hợp. Điều này cũng liên quan đến vấn đề thời hạn giao hàng, nếu như khôngmuốn bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu thì hơn bao giờ hết, hàng dệt may cần được tính toán giao đúng thời hạn để kịp thời tiêu thụ. - Thu nhập bình quân đầu người, thói quen tiêu dùng, cơ cấu tỉ lệ chi tiêu cho hàng may mặc trong tổng thu nhập dân cư và xu hướng thay đổi cơ cấu tiêu dùng trong tổng thu nhập… có tác động lớn đến xu hướng tiêu thụ hàng dệt may. Với các thị trường có mức thu nhập bình quân, tỉ lệ chi tiêu cho hàng may mặc cao, yêu cầu về mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng…sẽ trở nên quan trọng hơn các yếu tố về giá cả.
Vai trò và đặc điểm của hàng dệt may trong nền kinh tế và thương mại thế giới. Hai là, đặc điểm về sản xuất: Công nghệ dệt may là ngành sử dụng nhiều lao động giản đơn, phát huy được lợi thế của những quốc gia có nguồn lao động dồi dào với giá nhân công rẻ. Đặc biệt ngành công nghiệp dệt may đòi hỏi vốn đầu tư ít nhưng tỉ lệ lãi khá cao. Chính vì vậy sản xuất hàng dệt may thường phát triển mạnh và có hiệu quả rất lớn đối với các nước đang phát triển và đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá.
Khi một nước trở thành nước công nghiệp phát triển có trình độ công nghệ cao, giá lao động cao, sức cạnh tranh trong sản xuất hàng dệt may giảm thì họ lại vươn tới những ngành công nghiệp có hàm lượng kĩ thuật cao hơn, tốn ít lao động và mang lại lợi nhuận cao. Công nghiệp dệt may lại phát huy vai trò ở các nước khác kém phát triển hơn. 11 Luan van Lịch sử phát triển của ngành dệt may thế giới cũng là lịch sử chuyển dịch của công nghiệp dệt may từ khu vực phát triển sang khu vực kém phát triển hơn do có sự chuyển dịch về lợi thế so sánh. Như vậy không có nghĩa là sản xuất dệt may không còn tồn tại ở các nước phát triển mà thực tế ngànhnàyđã tiến đến giai đoạn cao hơn, sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Ba là, đặc điểm về thị trường. Một đặc trưng nổi bật nữa của công nghệ dệt may là được bảo hộ chặt chẽ ở hầu hết các nước trên thế giới bằng những chính sách, thể chế đặc biệt. Mức thuế phổ biến đánh vào hàng dệt may cũng cao hơn so với các hàng hoá công nghiệp khác. Bên cạnh đó, từng nước nhập khẩu còn đề ra những qui định riêng đối với hàng dệt may nhập khẩu.
Những thể chế nhằm bảo hộ sản xuất hàng dệt may củamỗi nước và hạn chế nhập khẩu này đã chi phối thị trường hàng dệt may trên thế giới, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và buôn bán hàng dệt may trên thế giới .3 Những nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu hàng dệt may 1.1 Nhân tố khách quan Đây là nhóm nhân tố mà quốc gia hay doanh nghiệp không thể kiểm soát nhưng chúng lại có tác động to lớn đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Một sự biến động của chúng có thể làm cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp bị ngưng trệ, thậm chí bị hủy bỏ. Do đó, việc nghiên cứu nắm bắt những nhân tố này giúp nhà nước đưa ra những chính sách quản lý trong từng thời kỳ, giúp doanh nghiệp lập kế hoạch sản xuất, xuất khẩu và có những biện pháp điều chỉnh kịp thời trước những biến động. Thứ nhất, đó là môi trường chính trị.Trước hết, hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp là biểu hiện quan hệ quốc tế, quan hệ chính trị giữa hai quốc gia.
Sự ổn định về chính trị giữa các quốc gia, khu vực, đặc biệt là các quốc gia nhập khẩu có tác động rất lớn đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Một môi trường chính trị thường xuyên biến đổi có thể tác động tiêu cực tới hoạt động xuất nhập khẩu, làm suy giảm niềm tin của các doanh nghiệp đối với một thị trường và làm tăng độ rủi ro trong kinh doanh. Trong thời kỳ hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay, 12 Luan van việc một quốc gia có môi trường chính trị không ổn định đang gây tác động càng lớn hơn đối với tình hình xuất nhập khẩu. Cụ thể, một quốc gia hay một doanh nghiệp hiện nay luôn có thể tìm kiếm một cách dễ dàng các đối tác kinh doanh mới hơn tại một quốc gia có nền chính trị ổn định hơn để tiến hành các hoạt động xuất nhập khẩu.
Thứ hai, đó là môi trường kinh tế. Hoạt động xuất khẩu là một phần trong lĩnh vực hoạt động kinh tế. Do vậy, nó cũng biến động theo tình hình kinh tế của từng quốc gia. Để đánh giá sự biến động đó, chúng ta thường xem xét một số chỉ tiêu quan trọng như: Tốc độ tăng trưởng kinh tế, tình hình lạm phát và khả năng kiểm soát lạm phát, tiềm năng của nền kinh tế, cơ cấu kinh tế,.
Những chỉ tiêu này không chỉ phản ánh khái quát chung về môi trường kinh doanh của một quốc gia mà còn phản ánh nhu cầu của quốc gia đó về các loại sản phẩm hàng hóa.