Chương 1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chương 2. Thực trạng về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập Chương 3. Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và phân loại về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm và phân loại cạnh tranh Khái niệm cạnh tranh Trong kinh tế, ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì quan niệm và nhận thức về vấn đề cạnh tranh, phạm vi và các cấp độ áp dụng cũng khác nhau.
Tuy nhiên, xét theo quan điểm tổng hợp, cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn) để đạt mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình như chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như đảm bảo tiêu thụ có lợi nhất nhằm nâng cao vị thế của mình. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích: đối với người kinh doanh là lợi nhuận, còn đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng. Cạnh tranh cũng như các quy luật, hiện tượng kinh tế - xã hội khác chỉ xuất hiện, tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định. Nhiều quan điểm đồng thuận cho rằng, mục đích cuối cùng của các bên tham gia cạnh tranh là 10 nhằm thoả mãn tối đa lợi ích kinh tế, tức lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Cạnh tranh là biểu hiện có tính bề nổi thông qua hoạt động kinh tế của con người; còn lợi nhuận là mục đích, động lực, là tác nhân kích thích các hoạt động ấy. Trong hầu hết trường hợp, cạnh tranh sẽ không xuất hiện khi lợi nhuận không phải là mục đích cuối cùng. Để thoả mãn các nhu cầu, đạt được các mục đích tối đa hoá lợi nhuận có nhiều con đường mà cạnh tranh là con đường phổ biến hơn cả. Như vậy, trong cuộc sống kinh tế, cạnh tranh là một trong những phương pháp để con người đạt được lợi ích kinh tế.
Tóm lại, cạnh tranh được sản sinh từ nhu cầu tối đa hoá lợi nhuận, thoả mãn lợi ích kinh tế của con người. Tuy vậy, mặc dù động lực cạnh tranh xuất hiện, song cạnh tranh chỉ vận hành khi có môi trường cạnh tranh, môi trường cạnh tranh được hình thành trong nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, luật pháp cho phép tồn tại nhiều dạng sở hữu, thành phần kinh tế khác nhau cùng hoạt động sản xuất kinh doanh. Tro ng điều kiện như vậy điều không tránh khỏi là quyền lợi kinh tế bị xung đột; để tối đa hoá lợi nhuận, không bị đào thải các chủ thể kinh tế chỉ có cách duy nhất là cạnh tranh.
Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh tế thuộc các dạng sở hữu khác nhau với khả năng về vốn, công nghệ, quản lý, các yếu tố đầu vào sản xuất cũng khác nhau; trong điều kiện nguồn lực khan hiếm, mọi chủ thể kinh tế đều tiến tới tối đa hoá lợi ích và lợi nhuận thì cạnh tranh là điều tất yếu. Mặt khác, các quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật giá cả là 4 quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế thị trường. Các quy luật này đều tạo môi trường tốt cho cạnh tranh hình thành, vận hành và phát triển. Nói tóm lại, nền kinh tế thị trường với sự tồn tại đa hình thức sở hữu, thành phần kinh tế là tiền đề cơ bản cho cạnh tranh xuất hiện, tồn tại và phát 11 triển.
Tuy nhiên, cơ chế cạnh tranh trong những điều kiện như vậy trong nhiều trường hợp chưa thực sự vận hành hiệu quả, thậm chí có thể bị tắc nghẽn do những thất bại của chính thị trường, đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước. Khi cơ chế cạnh tranh không thể vận hành một cách suôn sẻ do thất bại của thị trường thì sự điều tiết hợp lý của nhà nước trong chính sách cạnh tranh để cơ chế cạnh tranh vận hành hiệu quả là điều cần thiết. Tuy vậy, điều cốt lõi là nhà nước phải thực hiện, xây dựng chính sách cạnh tranh hiệu quả, môi trường cạnh tranh thông thoáng, bình đẳng, lành mạnh nhằm tránh thất bại của thị trường gây tổn hại đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. Tóm lại, nhu cầu, động lực cạnh tranh được hấp dẫn bởi lợi nhuận là điều kiện khởi đầu để các chủ thể kinh tế cạnh tranh với nhau.
Song chỉ có nền kinh tế thị trường là tiền đề cơ bản, tạo điều kiện cho cạnh tranh có thể vận hành được. Việc can thiệp thích hợp của nhà nước nhằm điều tiết cạnh tranh, giúp cơ chế cạnh tranh được vận hành thông suốt trong trường hợp thất bại của thị trường là cần thiết trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Phân loại cạnh tranh - Xét theo chủ thể cạnh tranh: Dưới góc độ các chủ thể kinh tế tham gia thị trường, có cạnh tranh giữa những người sản xuất (người bán), cạnh tranh giữa những người mua, cạnh tranh giữa những người bán và người mua. Ở đây cạnh tranh xoay quanh vấn đề: chất lượng hàng hóa, giá cả và điều kiện dịch vụ.
- Xét theo tính chất của phương thức cạnh tranh: Trong cạnh tranh, các chủ thể kinh tế sẽ dùng tất cả các biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình. Có những biện pháp cạnh tranh hợp pháp hay 12 lành mạnh. Ngược lại, có những thủ đoạn phi pháp nhằm tiêu diệt đối phương chứ không phải bằng nỗ lực vươn lên của mình, gọi là cạnh tranh bất hợp pháp hay cạnh tranh không lành mạnh. - Xét theo hình thái cạnh tranh: thì có cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo.
+ Cạnh tranh hoàn hảo hay còn gọi là cạnh tranh thuần túy là tình trạng cạnh tranh trong đó giá cả của một loại hàng hóa là không thay đổi trong toàn bộ các nơi của thị trường, do có nhiều người bán và người mua, họ có đủ thông tin về các điều kiện của thị trường. Trong điều kiện đó không có công ty nào có đủ sức mạnh có thể ảnh hưởng đến giá cả sản phẩm của mình trên thị trường. + Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thái chiếm ưu thế trong các ngành sản xuất kinh doanh mà ở đó các nhà sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực có thể chi phối được giá cả sản phẩm của mình trên thị trường. Trong cạnh tranh không hoàn hảo lại phân ra hai loại là: độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính độc quyền.
Độc quyền nhóm tồn tại trong các ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một ít người sản xuất, mỗi người đều nhận thức được rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ phụ thuộc vào sản lượng của mình mà còn phụ thuộc vào hoạt động cạnh tranh của những đối thủ quan trọng trong ngành đó. Cạnh tranh mang tính độc quyền là một hình thức cạnh tranh mà ở đó người bán có thể ảnh hưởng đến người mua bằng sự khác nhau của các sản phẩm của mình về hình dáng, kích thước, chất lượng, nhãn mác. Trong rất nhiều trường hợp người bán có thể buộc người mua chấp nhận giá. 13 - Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể: thì có cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành mà các nhà kinh tế học chia thành hai hình thức là cạnh tranh dọc và cạnh tranh ngang.
Cạnh tranh dọc: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí bình quân thấp nhất khác nhau. Cạnh tranh dọc chỉ ra rằng sự thay đổi giá bán và lượng bán của các doanh nghiệp sẽ có điểm dừng. Sau một thời gian nhất định, hình thành một giá thị trường thống nhất. Cạnh tranh dọc sẽ làm cho các doanh nghiệp có chi phí bình quân cao bị phá sản, còn các doanh nghiệp có chi phí bình quân thấp nhất sẽ thu được lợi nhuận cao và phát triển.
Cạnh tranh ngang: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí bình quân thấp nhất như nhau. Do đặc điểm này nên trong cạnh tranh ngang sẽ không có doanh nghiệp nào bị loại khỏi thị trường, song giá cả ở mức thấp tối đa, lợi nhuận giảm dần. Để hạn chế bất lợi đó trong cạnh tranh ngang dẫn đến hai khuynh hướng: hoặc liên minh với nhau thống nhất giá bán cao, giảm lượng bán trên thị trường; hoặc là các doanh nghiệp tìm mọi cách giảm chi phí, tức là chuyển từ cạnh tranh ngang sang cạnh tranh dọc nhằm trụ lại được trên thị trường và thu lợi nhuận cao.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh và các cấp độ của năng lực cạnh tranh Khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp. Các cấp độ của năng lực cạnh tranh 14 Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành bốn cấp độ sau: - Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia - Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp - Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá Bốn cấp độ năng lực cạnh tranh trên có mối tương quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau.
Do đó, khi xem xét, đánh giá và đề ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thiết phải đặt nó trong mối tương quan chung giữa các cấp độ năng lực cạnh tranh. Một mặt, tổng số năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp của một nước tạo thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia đó. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khi năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm doanh nghiệp đó đều thấp. Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia thể hiện qua môi trường kinh doanh, cạnh tranh quốc tế và trong nước (đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế).
Trong đó, các cam kết về hợp tác kinh tế quốc tế, các chính sách kinh tế vĩ mô và hệ thống luật pháp có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành và của sản phẩm hàng hoá trong quốc gia đó. Vì vậy, trước khi đề cập đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, xin được sơ lược về năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia và của sản phẩm.