Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế Việt Nam khi từng nắm giữ từ 42% đến 59,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn 2000–2007 và tạo ra hơn 577 nghìn tỉ đồng doanh thu vào năm 2007. Tuy nhiên, trước bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và mở cửa thị trường, các doanh nghiệp nhà nước bộc lộ hạn chế sâu sắc về hiệu quả vận hành khi giá thành sản phẩm cao hơn hàng nhập khẩu từ 20% đến 40%, biên chế quản lý cồng kềnh gấp 2 đến 3 lần khu vực dân doanh và hấp thụ tới 50% tổng dư nợ tín dụng ngân hàng nhưng đóng góp vào Tổng sản phẩm quốc nội chỉ dao động từ 37% đến 39%.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với thực trạng năng lực cạnh tranh còn yếu kém của các doanh nghiệp nhà nước trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh, đánh giá thực trạng tiến trình cổ phần hóa và hoạt động sản xuất kinh doanh của khối doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 1985–2007, đúc kết bài học quốc tế từ Ba Lan và Trung Quốc, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nâng cao sức cạnh tranh đến năm 2010.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp khung chính sách tối ưu hóa việc sắp xếp lại 1.553 doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2007–2010, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ nợ xấu của khối này từ mức 3,08% xuống dưới 1,5%, đồng thời thúc đẩy mức tăng trưởng vốn điều lệ và lợi nhuận sau cổ phần hóa đạt trên 30% một cách bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin về quy luật cạnh tranh, giá trị thị trường và tỷ suất lợi nhuận bình quân hình thành từ cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp các lý thuyết kinh tế hiện đại của Paul Samuelson về cấu trúc thị trường (cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền nhóm, cạnh tranh mang tính độc quyền), quan điểm năng suất của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, cùng mô hình 5 thuộc tính năng lực cạnh tranh của Henricsson năm 2004 (tính đa nghĩa, đa trị, đa cấp, tính phụ thuộc tương hỗ và tính chất động).

Bốn khái niệm cốt lõi được định nghĩa chuẩn xác gồm:

  1. Cạnh tranh là quan hệ kinh tế giữa các chủ thể nhằm giành giật điều kiện sản xuất, tiêu thụ thuận lợi nhất để tối đa hóa lợi ích.
  2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì, nâng cao lợi thế trong tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị phần và sử dụng hiệu quả các nguồn lực sản xuất.
  3. Doanh nghiệp nhà nước theo Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối trên 50%.
  4. Cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi sở hữu, đa dạng hóa nguồn vốn nhằm xóa bỏ cơ chế bao cấp và nâng cao hiệu quả quản trị.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện do Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp cùng Tổng cục Thống kê công bố trong giai đoạn 1985–2007, kết hợp bộ số liệu điều tra thực tế từ 1.616 doanh nghiệp nhà nước đã hoạt động trên 1 năm sau cổ phần hóa tính đến năm 2006. Phương pháp chọn mẫu áp dụng theo nguyên tắc phân tầng đại diện trên quy mô toàn quốc, bao phủ 66,0% doanh nghiệp thuộc khối công nghiệp - giao thông - xây dựng, 27,6% khối thương mại - dịch vụ và 6,4% khối nông - lâm - ngư nghiệp.

Tác giả kết hợp phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phân tích định lượng thống kê, so sánh đối chiếu và phân tích kinh nghiệm chuyển đổi của Ba Lan (giảm từ 8.441 doanh nghiệp năm 1990 xuống 285 doanh nghiệp năm 2007) cùng Trung Quốc (tái cơ cấu 155 tập đoàn trung ương với tổng tài sản 10,6 nghìn tỉ Nhân dân tệ năm 2005). Việc lựa chọn phương pháp này giúp bảo đảm tính khách quan khoa học, lượng hóa chính xác các biến động về hiệu quả vốn và năng suất lao động trong suốt tiến trình 23 năm đổi mới kinh tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cổ phần hóa tạo ra bước nhảy vọt vượt bậc về hiệu quả kinh doanh. Báo cáo tổng hợp từ 1.616 doanh nghiệp sau cổ phần hóa cho thấy vốn điều lệ tăng bình quân 58,6%, doanh thu tăng 48,2%, lợi nhuận tăng 33,18%, nộp ngân sách tăng 44,2%, thu nhập người lao động tăng 51,8% và tỷ lệ chia cổ tức đạt mức 13%. Tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ sau chuyển đổi giảm mạnh xuống chỉ còn 7,1% (109 doanh nghiệp).

Thứ hai, tiến trình cơ cấu lại diễn ra không đồng đều và có dấu hiệu chững lại về quy mô vốn. Sau giai đoạn bùng nổ năm 2004 với 753 doanh nghiệp được cổ phần hóa, tiến độ giảm xuống còn 595 doanh nghiệp năm 2006 và chỉ đạt 150 doanh nghiệp năm 2007. Mặc dù lũy kế đến hết năm 2005 đã cổ phần hóa được 2.935 đơn vị nhưng lượng vốn thực tế được chuyển đổi chỉ chiếm 12% tổng vốn nhà nước. Tỷ trọng cổ phần hóa tập trung chủ yếu ở cấp địa phương với 61,7%, trong khi các Tổng công ty 91 chỉ đạt 9,3%.

Thứ ba, sự lãng phí nguồn lực tài chính trước cổ phần hóa diễn ra nghiêm trọng. Trong giai đoạn 2000–2007, khối doanh nghiệp nhà nước chiếm từ 42% đến 59,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội nhưng chỉ đóng góp khoảng 30% đến 39% GDP và giải quyết 9% đến 15% việc làm phi nông nghiệp. Khu vực này chiếm gần 50% tổng dư nợ ngân hàng với tỷ lệ nợ xấu tăng từ 2,41% năm 2004 lên 3,08% trong 8 tháng đầu năm 2005.

Thứ tư, năng lực cạnh tranh nội tại bị suy giảm do công nghệ lạc hậu và quản trị cồng kềnh. Chỉ có 15% sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, trong khi 20% là hàng kém chất lượng. Giá thành sản phẩm sản xuất trong nước đắt hơn hàng nhập khẩu từ 20% đến 40% do bộ máy quản trị biên chế lớn gấp 2 đến 3 lần doanh nghiệp ngoài quốc doanh và gấp 10 lần các doanh nghiệp liên doanh nước ngoài cùng quy mô.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ cơ chế quản lý hành chính trực tiếp qua hệ thống bộ chủ quản, tạo ra tâm lý ỷ lại và hiện tượng chủ sở hữu vắng mặt. Các doanh nghiệp được bao cấp vốn với lãi suất ưu đãi, không bị áp lực phá sản, dẫn đến việc lập kế hoạch tài chính thiếu động lực tiết kiệm chi phí.

So sánh với bài học quốc tế, Ba Lan đã xử lý triệt để sự dàn trải bằng cách tư nhân hóa trực tiếp 2.454 doanh nghiệp và thu về 28.558,8 triệu USD (vốn nước ngoài chiếm 49,5%), trong khi Trung Quốc kiên quyết cắt bỏ trợ cấp ngân hàng thương mại từ năm 1998, buộc 1.828 doanh nghiệp yếu kém phá sản để tập trung nguồn lực xây dựng 155 tập đoàn trung ương đạt lợi nhuận 627,7 tỉ Nhân dân tệ.

Dữ liệu nghiên cứu của luận văn có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột kép so sánh các chỉ số tăng trưởng trước và sau cổ phần hóa (nổi bật là mức tăng 58,6% vốn điều lệ và 51,8% thu nhập người lao động), kết hợp cùng biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu ngành của các doanh nghiệp đã cổ phần hóa (với 66,0% thuộc công nghiệp - xây dựng).

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đẩy mạnh tái cơ cấu và cổ phần hóa theo chiều sâu đối với các tập đoàn quy mô lớn. Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp cùng Bộ Tài chính cần hoàn thành kế hoạch sắp xếp 1.553 doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2007–2010, trong đó dứt điểm cổ phần hóa 950 doanh nghiệp. Cần giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước xuống dưới 50% tại các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, xây dựng nhằm huy động vốn ngoài xã hội, đưa tỷ trọng vốn chuyển đổi thực chất lên trên 40% tổng vốn nhà nước.

Thứ hai, đổi mới mô hình quản trị công ty và tinh giản triệt để bộ máy vận hành. Các doanh nghiệp nhà nước cần chuyển đổi 100% sang hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2005. Hội đồng quản trị phải thực hiện cắt giảm từ 30% đến 50% biên chế quản lý gián tiếp trong giai đoạn 2008–2010, xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản can thiệp vào hoạt động kinh doanh, áp dụng chế độ thuê tổng giám đốc điều hành theo hợp đồng hiệu quả công việc.

Thứ ba, gia tăng tỷ trọng đầu tư nghiên cứu phát triển và hiện đại hóa dây chuyền sản xuất. Các tổng công ty và tập đoàn nhà nước phải trích lập tối thiểu từ 2% đến 3% tổng doanh thu hàng năm cho quỹ nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới trong giai đoạn 2008–2012. Mục tiêu cụ thể là giảm giá thành sản xuất từ 15% đến 25%, xóa bỏ chênh lệch chi phí 20% đến 40% so với hàng ngoại nhập, đồng thời nâng tỷ lệ sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu từ mức 15% lên trên 45%.

Thứ tư, siết chặt kỷ luật tài chính và lành mạnh hóa dòng vốn tín dụng. Ngân hàng Nhà nước và các bộ ngành liên quan phải chấm dứt hoàn toàn chính sách khoanh nợ, bù lỗ cho các doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, thực thi nghiêm ngặt Luật Phá sản. Cần kiểm soát chặt chẽ để hạ tỷ lệ nợ xấu của khối doanh nghiệp nhà nước từ 3,08% xuống dưới 1,5% trước năm 2010, chấm dứt tình trạng chiếm dụng 50% vốn vay ngân hàng nhưng sinh lời kém.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm chuyên gia hoạch định chính sách tại Ban Chỉ đạo Đổi mới Doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính: Nắm bắt cơ sở thực chứng từ 1.616 doanh nghiệp và kinh nghiệm xử lý 8.441 doanh nghiệp của Ba Lan để hoàn thiện khung pháp lý về định giá đất đai, tài sản vô hình và đẩy nhanh tiến độ sắp xếp 950 doanh nghiệp cổ phần hóa.

Lãnh đạo cấp cao, Hội đồng quản trị các Tập đoàn, Tổng công ty 91 và doanh nghiệp nhà nước: Ứng dụng các giải pháp tinh gọn bộ máy quản lý (vốn cồng kềnh gấp 2 đến 3 lần tư nhân), tái cấu trúc danh mục đầu tư R&D để triệt tiêu mức chênh lệch giá thành 20% đến 40% so với đối thủ cạnh tranh quốc tế.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản trị kinh doanh: Sử dụng hệ thống lý luận kết hợp giữa kinh tế chính trị Mác - Lênin và các mô hình cạnh tranh hiện đại của OECD, Samuelson, Henricsson cùng chuỗi dữ liệu kinh tế vĩ mô 1985–2007 phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu.

Các nhà đầu tư tài chính, quỹ đầu tư trong và ngoài nước: Đánh giá chính xác tiềm năng tăng trưởng, rủi ro tài chính của khối doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ 42% tổng vốn đầu tư xã hội, từ đó đưa ra chiến lược mua cổ phần hiệu quả khi các doanh nghiệp triển khai phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng.

Câu hỏi thường gặp

Cổ phần hóa đã mang lại sự cải thiện cụ thể nào cho kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước? Khảo sát thực tế trên 1.616 doanh nghiệp hoạt động trên 1 năm sau cổ phần hóa chứng minh hiệu quả vượt bậc: vốn điều lệ tăng 58,6%, doanh thu tăng 48,2%, lợi nhuận tăng 33,18%, đóng góp ngân sách tăng 44,2% và thu nhập người lao động tăng 51,8%. Tỷ lệ thua lỗ giảm xuống chỉ còn 7,1%, cho thấy sự thay đổi sở hữu đã kích thích động lực sản xuất mạnh mẽ.

Vì sao tiến độ cổ phần hóa lại sụt giảm nghiêm trọng trong năm 2007? Tiến độ sụt giảm từ 753 doanh nghiệp năm 2004 xuống còn 150 doanh nghiệp năm 2007 do giai đoạn này tập trung vào các đơn vị dịch vụ công ích có vốn mỏng, vướng mắc trong định giá quyền sử dụng đất sát giá thị trường và xử lý các khoản nợ tồn đọng phức tạp, khiến hơn một nửa số cuộc chào bán đầu năm 2008 không đạt kế hoạch.

Đâu là lực cản lớn nhất đối với năng lực cạnh tranh về giá của sản phẩm doanh nghiệp nhà nước? Giá thành sản phẩm nội địa cao hơn hàng nhập khẩu từ 20% đến 40% do công nghệ trang thiết bị chắp vá, lạc hậu kết hợp với bộ máy gián tiếp cồng kềnh gấp 2 đến 3 lần doanh nghiệp ngoài nhà nước và gấp 10 lần doanh nghiệp liên doanh, dẫn đến chi phí quản lý và tiêu hao nguyên nhiên liệu trên mỗi đơn vị sản phẩm quá lớn.

Việt Nam có thể học hỏi điều gì từ kinh nghiệm cải cách doanh nghiệp nhà nước của Ba Lan và Trung Quốc? Ba Lan cho thấy bài học tư nhân hóa dứt điểm để giảm số lượng doanh nghiệp từ 8.441 xuống 285 đơn vị, thu về 28.558,8 triệu USD. Trung Quốc đem lại kinh nghiệm đóng băng bầu sữa tín dụng ngân hàng, cương quyết cho phá sản 1.828 đơn vị thua lỗ để dồn lực quản trị 155 tập đoàn nhà nước trung ương đạt 627,7 tỉ Nhân dân tệ lợi nhuận.

Tại sao doanh nghiệp nhà nước vẫn cần giữ vai trò nòng cốt dù hiệu quả sử dụng vốn chưa cao? Doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 42% tổng vốn đầu tư xã hội và đóng góp 39% vào ngân sách năm 2007, là công cụ điều tiết vĩ mô trực tiếp của Nhà nước để đầu tư hạ tầng thiết yếu, cung ứng dịch vụ công ích tại vùng sâu vùng xa, bảo đảm an ninh năng lượng và giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong thời kỳ quá độ.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp nhà nước là yêu cầu sống còn và quy luật tất yếu khi Việt Nam hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu.
  • Số liệu thực chứng từ 1.616 doanh nghiệp chứng minh cổ phần hóa giúp gia tăng 58,6% vốn điều lệ, 48,2% doanh thu và nâng cao thu nhập cho người lao động thêm 51,8%.
  • Điểm nghẽn lớn nhất trong giai đoạn 1985–2007 nằm ở cơ chế quản lý bao cấp gián tiếp, tỷ lệ nợ xấu 3,08% và sự chậm trễ khi cổ phần hóa các Tổng công ty 91 chỉ đạt 9,3%.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất tập trung vào việc hoàn thành kế hoạch sắp xếp 1.553 đơn vị, cổ phần hóa 950 doanh nghiệp giai đoạn 2007–2010 và xóa bỏ cấp bộ chủ quản.
  • Cắt giảm biên chế quản lý, đầu tư tối thiểu 2% doanh thu cho R&D để triệt tiêu mức chênh lệch giá thành từ 20% đến 40% so với sản phẩm ngoại nhập.

Đóng góp then chốt của luận văn là xây dựng hệ thống luận cứ kinh tế chính trị vững chắc, kết hợp hài hòa giữa lý luận Mác - Lênin và các mô hình quản trị hiện đại để định hướng tái cơ cấu kinh tế nhà nước. Lộ trình hành động tiếp theo trong giai đoạn 2008–2010 đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của Chính phủ và các bộ ngành nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, nâng cao hiệu quả phân bổ của 42% nguồn vốn đầu tư toàn xã hội. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý hãy tham khảo toàn văn công trình để khai thác trọn vẹn kho dữ liệu thực chứng quý báu này.