Chương 1: Tổng quan nghiên cứu liên quan đến NLCT dịch vụ NHBL của NHTM Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về NLCT các dịch vụ NHBL của NHTM Chương 3:Thực trạng NLCT các dịch vụ NHBL của ngân hàng TMCP Bảo Việt Chương 4: Các đề xuất nâng cao NLCT các dịch vụ NHBL của Ngân hàng TMCP Bảo Việt 10 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Đ N NĂNG LỰC CẠNH TRANH DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ NLCT là một phạm trù lý luận được hình thành và phát triển qua một quá trình lâu dài trong lịch sử học thuyết kinh tế trên thế giới. Trong đó, đóng góp quan trọng và cơ bản vào việc phát triển khái niệm NLCT, phải kể đến các nhà khoa học ban đầu nghiên cứu về khái niệm “cạnh tranh”. Lý thuyết về cạnh tranh đã được hình thành từ sớm, bắt đầu từ Adam Smith ở thế kỷ XVIII cho đến những năm 1970, trong đó nổi bật là các nghiên cứu về cạnh tranh của Michael E.
Trên nền tảng các nghiên cứu về cạnh tranh, lý thuyết về NLCT bắt đầu được hình thành và phát triển cho đến nay. Những nghiên cứu ban đầu về NLCT chủ yếu ở cấp độ NLCT quốc gia (Ví dụ: Porter, 1990; D’Cruz & Rugman, 1992; Momaya, 2002), sau đó được phát triển dần sang NLCT cấp độ ngành (Ví dụ: Ambastha và Momaya, 2004), NLCT của doanh nghiệp (Ví dụ: Porter, 1998; Ambastha & Momaya, 2004; Porter, 2008), và NLCT ở cấp độ sản phẩm/ dịch vụ (Ví dụ: Chursin & Makarow, 2015; Zavyalova, 2017). Trong đó, NLCT ở cấp độ sản phẩm/ dịch vụ bắt đầu được nghiên cứu từ những năm 2000 trở lại đây khi những nghiên cứu trước đó chỉ ra được mối liên hệ và vai trò quan trọng của NLCT của sản phẩm dịch vụ tới NLCT tổng thể của doanh nghiệp. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu điển hình về NLCT của sản phẩm dịch vụ ở trong và ngoài nước trong thời gian qua: 1.
Jagdish N Sheth, Rajendra S Sisodia (2002), “Marketing productivity: issues and analysis”, Journal of business research, Volumn 55, May 2002, p 349-262. Mô hình nghiên cứu của Sheth & Sisodia được phát triển dựa trên mô hình lý thuyết giá trị hỗn hợp TMX (Theory of Mixed Value). Theo đó, NLCT của doanh nghiệp được cấu thành từ ba cột trụ chính là: (i) Sản phẩm hàng đầu (là sự kết hợp của chất lượng sản phẩm, sự sáng tạo trong sản phẩm, khả năng tùy chỉnh theo nhu cầu khách hàng); (ii) Khách hàng thân thuộc (Niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp, lòng trung thành của khách hàng, khả năng thu hút khách hàng mới); và (iii) Vận hành hoàn hảo (thể hiện thông qua hoạt động tiếp thị, khuyến mại, chăm sóc khách hàng, dịch vụ sau bán,…). Như vậy, Sheth và Sisodia (2002) cho rằng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào giá trị mà doanh nghiệp đó cung ứng cho khách hàng.
Giá trị cung ứng này phụ thuộc vào và niềm tin của người dùng với các thuộc tính của sản phẩm như: chất lượng sản phẩm, sự độc đáo và mức độ tùy chỉnh của sản phẩm theo nhu cầu khách hàng; giá trị cảm nhận từ các hoạt động xúc tiến hỗn hợp, chăm sóc khách hàng và dịch vụ sau bán,… Khách hàng càng có cảm nhận về giá trị họ nhận được từ doanh nghiệp cao sẽ càng có niềm tin và trung thành với doanh nghiệp, đồng 11 thời giúp lôi kéo các khách hàng mới. Do đó, việc xác định được mức độ tác động của từng thành phần tới thái độ và hành vi của tập khách hàng sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng được các giải pháp cạnh tranh tốt nhất. Tuy nhiên, hạn chế của mô hình này là không coi Giá là một yếu tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi giá trị cung ứng cho khách hàng không chỉ phụ thuộc vào mức độ cảm nhận của họ về những lợi ích của sản phẩm mang lại mà còn phụ thuộc vào mức chi phí họ bỏ ra.
Chất lượng cảm nhận cao nhưng chi phí cao sẽ dẫn đến đánh giá về giá trị/ lợi ích thực nhận được của khách hàng thấp và ngược lại. Takahiro Fujimoto (2011), Introduction to Production Management, Nihon Keizai Shimbun, Inc. Cuốn sách trình bày các vấn đề liên quan đến quản trị sản xuất trong doanh nghiệp. Theo đó, quản trị sản xuất tốt giúp doanh nghiệp đạt được nhiều lợi thế trong cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác trên cung thị trường.
NLCT được đề cập trong cuốn sách này được tiếp cận trên giác độ sản phẩm khi gắn hoạt động quản trị sản xuất với NLCT. Theo đó, NLCT được hiểu là sức mạnh của một sản phẩm hoặc một nhóm sản phẩm được cung cấp bởi một doanh nghiệp có khả năng thỏa mãn nhu cầu của tập khách hàng hiện tại và thu thút khách hàng tiềm năng. NLCT của sản phẩm được thể hiện dưới hai khía cạnh: (i) Đáp ứng được nhu cầu của tập khách hàng hiện tại thông qua sự hài lòng của khách hàng, từ đó làm tăng số lượng khách hàng mua lặp lại và khách hàng trung thành; (ii) Thu hút khách hàng mới thông qua mức độ hấp dẫn khách hàng tiềm năng, gia tăng uy tín đối với tập khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp. Cũng theo Takahiro Fujimoto (2011), NLCT của sản phẩm được cấu thành từ hai nhóm: (i) NLCT bề mặt, bao gồm các yếu tố marketing - mix (sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến thương mại); (ii) NLCT theo chiều sâu, bao gồm: chất lượng sản phẩm/dịch vụ, giao hàng, tính linh hoạt,… Nói cách khác, NLCT của sản phẩm trong cuốn sách này được tiếp cận theo hướng khách hàng, được thể hiện thông qua khả năng thỏa mãn tập khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác.
Alexander Chursin & Yury Makarow (2015), Management of Competiveness: Theory and Practice, Spriger International Publishing Switzerland, 2015. Cuốn sách đề cập khá chi tiết về các mô hình, lý thuyết về quản trị NLCT ở ba cấp độ: NLCT của sản phẩm, NLCT của doanh nghiệp, và NLCT cấp ngành. Trong đó, NLCT của sản phẩm được coi là một trong những yếu tố cấu thành quan trọng của NLCT cấp công ty. NLCT của sản phẩm là khả năng sản phẩm đó đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trên một thị trường mục tiêu tốt hơn và cung ứng giá trị cao hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Hai tác giả cũng xác định hệ thống các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng tới NLCT của sản phẩm. Trong đó, các yếu tố môi trường bên trong được chia thành 04 nhóm chính: (i) Các nhân tố định vị; (ii) Các nhân tố tổ chức và quản trị; (iii) Các nhân tố xã hội và kinh tế của công ty; (iv) Các nhân tố kỹ thuật. Mô hình nghiên cứu của Chursin & Makarov (2015) Theo Chursin & Makarov (2015), mặc dù có nhiều yếu tố ảnh hưởng nhưng giá là yếu tố chính ảnh hưởng tới NLCT của sản phẩm. Giảm giá có thể giúp nâng cao NLCT của sản phẩm và ngược lại.
Thông thường, khách hàng sẽ bị thu hút bởi một sản phẩm thỏa mãn nhu cầu cao hơn hoặc nhiều hơn với cùng mức giá so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Nói cách khác, NLCT của sản phẩm được tính bằng công thức: lợi ích/chi phí tiêu dùng của sản phẩm. Lợi ích của sản phẩm chủ yếu được đặc trưng bởi giá cả, chất lượng và mối tương quan giữa hai yếu tố này; được tạo ra thông qua các hoạt động trong chuỗi giá trị như: thiết kế, sản xuất, bán hàng và quảng cáo. Nghiên cứu này tiếp cận về NLCT của sản phẩm trên các khía cạnh: khái niệm, các nhân tố ảnh hưởng, và các nhân tố cấu thành NLCT của sản phẩm.
Theo đó, các yếu tố bên trong tác động đến NLCT của sản phẩm doanh nghiệp bao gồm: Giá và các điều kiện thanh toán; (ii) Đặc tính của sản phẩm (mức chất lượng, tính thẩm mỹ của sản phẩm,…); (iii) Chất lượng dịch vụ trước và sau bán; (iii) hoạt động bảo hành; (iv) Trình độ đội ngũ nhân viên, cơ cấu tổ chức và sản xuất; (v) Trình độ công nghệ của hệ thống kiểm soát; (vi) Hình ảnh doanh nghiệp; (vii) Tham gia hội chợ, triển lãm. Theo Zavyalova (2017), một trong những thành tố quan trọng nhất cấu thành nên NLCT của sản phẩm là mức chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm càng cao sẽ càng thu hút người tiêu dùng. Tuy nhiên, việc doanh nghiệp đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ có một nhược điểm đó là: với việc nâng cao chất lượng sản phẩm đồng nghĩa với chi phí và giá thành sản phẩm sẽ tăng lên.
Nếu mức độ khác biệt về giá trở nên quá lớn sẽ khiến cho giá trị thặng dư của khách hàng khi sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp bị suy giảm. Điều này có thể khiến cho doanh nghiệp bị giảm sức cạnh tranh so với các đối thủ khác. Do đó, một tỷ lệ hợp lý giữa chất lượng và mức giá sản phẩm/dịch vụ sẽ giúp sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao hơn và doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận hơn. Mô hình nghiên cứu của Zavyalova (2017) Các nghiên cứu ở trong nước về NLCT chủ yếu ở cấp độ quốc gia và cấp độ doanh nghiệp (Ví dụ: Nguyễn Bách Khoa, 2004; Bùi Xuân Phong, 2005; Vũ Trọng Lâm, Nguyễn Kế Tuấn & cộng sự, 2006; Lê Công Hoa & Lê Chí Công, 2006;…).
Các nghiên cứu về NLCT của sản phẩm dịch vụ chủ yếu theo khía cạnh năng lực xuất khẩu của một số mặt hàng nông sản chủ đạo của Việt Nam như: gạo, cà phê, điều, chè, cao su… trên một số thị trường trọng điểm. Trong những năm gần đây, có một số luận án tiến sỹ nghiên cứu về NLCT ở cấp độ cung ứng dịch vụ và sản phẩm có thể kể đến như: 1. Lê Thị Hằng (2013), “Nâng cao NLCT trong cung ứng dịch vụ thông tin di động của các công ty viễn thông Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Kinh doanh và Quản lý, Đại học Kinh tế Quốc dân. Với luận án này, mặc dù đối tượng nghiên cứu là dịch vụ thông tin di động nhưng cách tiếp cận là NLCT ở cấp độ doanh nghiệp, được hiểu là khả năng của công ty trong việc cung ứng các dịch vụ thông tin di động có chất lượng phù hợp, giá thành hợp lý, hoạt động cung ứng thuận tiện nhằm duy trì vị thế của doanh nghiệp lâu dài và bền vững trên thị trường, thu được mức lợi nhuận mục tiêu.