CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm năng lực cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cạnh tranh trong ngân hàng thương mại: Để xem xét sự xuất hiện và phát triển của cạnh tranh, ta hãy xem xét quá trình lịch sử của ngành ngân hàng. Khi mới bắt đầu một cộng đồng chỉ có một ngân hàng duy nhất.
Đó là giai đoạn 1, người ta có một dịch vụ cơ bản và tương đối tin cậy. Tuy chỉ cung ứng một vài dịch vụ giới hạn nhưng cả cộng đồng đều vui vẻ chấp nhận. Sau đó là giai đoạn 2 là giai đoạn cạnh tranh. Lúc bấy giờ sẽ có thêm ngân hàng thứ 2 và thứ 3.
Người dân bây giờ có một sự lựa chọn giữa các nhà cung cấp dịch vụ khác nhau. Vì thế ưu thế sẽ thuộc về ai tạo nên được sự khác biệt để trở thành lựa chọn ưu tiên. Các ngân hàng sẽ lắng nghe và đáp ứng các đòi hỏi cao hơn của người tiêu dùng như thành lập các chi nhánh, thẻ ATM, thẻ tín dụng, hạ thấp mức phí, thực hiện các chương trình cho vay đặc biệt, và các dịch vụ khác. Lúc này, sự cạnh tranh xuất hiện và trở thành điều tất yếu.
Trái với giai đoạn 2 là đi theo hướng thị trường và phản ứng, giai đoạn 3 là khả năng sáng tạo. Có rất ít ngân hàng tiến đến giai đoạn này. Các ngân hàng muốn tồn tại và cạnh tranh được với các ngân hàng khác buộc phải tạo sự khác biệt. Như vậy, khi ngành ngân hàng phát triển bước sang giai đoạn 2 thì khái niệm cạnh tranh xuất hiện.
Vậy cạnh tranh là gì? Cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng thường xuyên trong lý thuyết kinh tế. Song, cạnh tranh là một hiện tượng có tính đa dạng và đa nghĩa nên người ta vẫn chưa tìm được một nghĩa thống nhất cho khái niệm này. Có quan niệm cho rằng cạnh tranh là phạm trù chỉ quan hệ kinh tế, theo đó các chủ thể kinh tế huy động tổng lực (nội lực và ngoại lực) của mình trên cơ sở sử dụng các phương thức nhằm giành ưu thế trên cơ sở sử dụng các phương thức nhằm giành ưu thế trên thương trường để đạt được lợi ích kinh tế là thu được nhiều lợi nhuận trong sự phát triển ổn định và bền vững. Trong phạm vi nghiên cứu này, cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi cao nhất.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 11 - Cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia, mà cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp. Cạnh tranh góp phần cho sự tiến bộ của khoa học, cạnh tranh giúp cho các chủ thể tham gia biết quý trọng hơn những cơ hội và lợi thế mà mình có được, cạnh tranh mang lại sự phồn thịnh cho đất nước…Thông qua cạnh tranh, các chủ thể tham gia xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách thức trước mắt và trong tương lai, để từ đó có những hướng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh. Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Theo điều 20, luật các tổ chức tín dụng: tổ chức tính dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Như vậy, ngân hàng thương mại có thể được xem là một loại doanh nghiệp, nên hoạt động của chúng chắc chắn chịu tác động của quy luật cạnh tranh và các quy luật khác của kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, do lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng thương mại là tiền tệ và các dịch vụ liên quan nên cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng có đặc thù so với các ngành, các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế. Hơn nữa, sản phẩm kinh doanh của ngân hàng thương mại là sản phẩm dịch vụ có tính vô hình nên khó đánh giá sự khác biệt của sản phẩm giữa các ngân hàng thương mại. Có nhiều quan niệm về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại: - Năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại được hiểu là khả năng tạo lập, duy trì lợi nhuận và thị phần trên cơ sở đa dạng và nâng cao chất lượng tiện ích các dịch vụ tài chính ngân hàng. - Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng thương mại là khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả các lợi thế so sánh để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với các ngân hàng thương mại khác.
- Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng mà do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm cũng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 12 - Dù khái niệm cạnh tranh được hiểu theo khía cạnh nào thì cũng bao gồm một số nét cơ bản sau: - Thứ nhất, đây là yếu tố năng động, luôn được đặt trong sự phát triển liên tục - Thứ hai, các lợi thế so sánh (hiện có và được tạo ra) chỉ là những yếu tố tiềm năng, điều quan trọng là các lợi thế này phải được sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả, đồng thời phải luôn đầu tư nhằm duy trì và tăng cường thêm năng lực một cách bền vững. - Thứ ba, cạnh tranh là một hoạt động chủ đích, do vậy năng lực cạnh tranh thường gắn liền với kết quả hoạt động cạnh tranh, tức mức độ đạt được các mục tiêu cạnh tranh mà ngân hàng thương mại tạo ra. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Hầu hết các nước trên thế giới đã xây dựng hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá và xếp hạng năng lực cạnh tranh của quốc gia, của một ngành và các doanh nghiệp trong một số ngành cụ thể. Tuy nhiên, không tồn tại một hệ thống chỉ tiêu nào có thể áp dụng cho mọi quốc gia, mọi ngành và mọi giai đoạn phát triển.
Mặc khác, ở nước ta hiện nay cũng chưa có một phương pháp nào được xây dựng đầy đủ và được áp dụng rộng rãi trên thực tế. Do vậy, trong phạm vi luận văn này xin được lựa chọn một số chỉ tiêu cơ bản để đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại. Tiềm lực tài chính 1. Vốn tự có: Vốn tự có là nguồn vốn quan trọng của ngân hàng nhằm tạo được niềm tin đối với khách hàng và đảm bảo cho ngân hàng có thể mở rộng quy mô kinh doanh.
Vốn tự có là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp và nó còn được gọi là vốn chủ sở hữu. Vốn tự có của ngân hàng được chia làm 2 loại: - Vốn tự có cơ bản: là phần vốn tự có hình thành ban đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động của ngân hàng, đây là nguồn vốn tương đối ổn định. Bao gồm vốn điều lệ (vốn ngân sách cấp, vốn cổ phần thường, vốn cổ phần ưu đãi vĩnh viễn), quỹ dự trữ, dự phòng, thặng dư vốn, lợi nhuận không chia và các khoản khác (các tài sản nợ khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 13 - - Vốn tự có bổ sung: là nguồn vốn tăng thêm khi ngân hàng đã đi vào hoạt động và phụ thuộc vào nguồn vốn tự có cơ bản về quy mô và có tính ổn định thấp.
Vốn tự có bổ sung bao gồm vốn cổ phần ưu đãi có thời hạn, tín phiếu vốn, trái phiếu chuyển đổi. Theo quy định của các cơ quan quản lý ngân hàng thì vốn tự có bổ sung không được vượt quá 50% vốn tự có cơ bản (Mỹ và Pháp). Vốn tự có là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng vì: - Vốn điều lệ (thành phần của vốn tự có) là nguồn vốn ban đầu có được khi ngân hàng mới hoạt động và được ghi vào bảng điều lệ hoạt động của ngân hàng. Theo quy định của Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2006 của Chính Phủ thì vốn điều lệ thực tế của ngân hàng thương mại cổ phần phải đạt được tối thiểu 3.000 tỷ đồng đến năm 2010.
- Vốn tự có cung cấp nguồn lực cho ngân hàng hoạt động trong thời gian mới bắt đầu, là thời gian mà ngân hàng chưa nhận được tiền gửi từ khách hàng, giúp ngân hàng chống đỡ khi rủi ro phát sinh. - Vốn tự có là nguồn vốn ổn định và luôn tăng trưởng trong quá trình hoạt động của ngân hàng, có thể sử dụng với kỳ hạn dài mà không phải hoàn trả nên nó chính là cơ sở để hình thành nên các nguồn vốn khác của ngân hàng đồng thời tạo nên uy tín ban đầu, duy trì niềm tin của công chúng vào ngân hàng - Dựa vào vốn tự có, cơ quan quản lý Nhà nước sử dụng một số hệ số nhằm điều chỉnh và đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng được lành mạnh và an toàn. Các hệ số đó bao gồm: Hệ số giới hạn huy động vốn (H1): H1= (Vốn tự có/Tổng nguồn vốn huy động) x100% Với hệ số này, cơ quan quản lý nhà nước sẽ giới hạn mức huy động vốn của ngân hàng để tránh tình trạng khi ngân hàng huy động vốn quá nhiều vượt quá mức bảo vệ của vốn tự có, làm cho ngân hàng có thể mất khả năng chi trả. Theo Pháp lệnh ngân hàng năm 1990, tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại phải ≤20 lần vốn tự có, tức H1≥5%.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 14 - Hệ số tỷ lệ giữa vốn tự có so tổng tài sản có (H2) H2=(Vốn tự có /Tổng tài sản Có)x100% Hệ số này dùng để đánh giá mức độ rủi ro của tổng tài sản Có của một ngân hàng. Thông thường ngân hàng nào gặp phải sự sụt giảm về tài sản càng lớn thì lợi nhuận của ngân hàng đó càng giảm thấp.