mở đầu và kết thúc bởi sản phẩm. Sản phẩm là cầu nối giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, giữa cung và cầu trên SV: Lê Thị Hường 9 Lớp: K7HQ1A1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GVHD: Th.S Hoàng Thị Phi Yến Khoa Quản trị doanh nghiệp thị trường do đó khi tiếp cận thị trường sản phẩm là một công cụ có tác động mạnh mẽ nhất. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghệp 1. Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô a.
Kinh tế Kinh tế bao gồm các yếu tố: tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập kinh tế quốc dân, lạm phát, thất nghiệp. Chẳng hạn tăng trưởng kinh tế, GDP cao sẽ làm thu nhập của dân cư tăng lên. Thu nhập của dân cư tăng lên có ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của họ và điều đó có nghĩa là họ có thể tiêu dùng những sản phẩm, dịch vụ với chất lượng và yêu cầu cao hơn. Đồng thời chấp nhận với giá thanh toán cao hơn.
Tuy nhiên khi GDP tăng lên cũng có nghĩa là chi phí tiền lương của các doanh nghiệp cũng tăng lên. Đây là nhân tố giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong đó các nhân tố kinh tế được xem là quan trọng nhất bởi nó có vai trò quyết định đối với sự hình thành của một doanh nghiệp và có ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh trong đó doanh nghiệp tham gia hoạt động. Không chỉ có ảnh hưởng ngay từ bước đầu gia nhập thị trường của doanh nghiệp mà chúng còn có tác động to lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Các nhân tố kinh tế có thể kể ra đây là: tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia, tỷ giá hối đoái, lãi suất, các chính sách kinh tế của Nhà nước. Nếu một quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thì đi cùng với nó là mức thu nhập của người dân cũng sẽ nâng cao. Khi thu nhập tăng thì người dân cũng quan tâm nhiều hơn đến tiêu dùng. Mức sống gia tăng nhận thức của người dân vì thế cũng cao hơn, do đó đòi hỏi của họ đối với sản phẩm dịch vụ không những cần giá thành hợp lý mà chất lượng còn phải tốt, mẫu mã phải đẹp.
Những đòi hỏi này sẽ tác động tới các doanh nghiệp, buộc họ phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã, tiếp cận công nghệ hiện đại giảm chi phí để cạnh tranh. Khoa học – công nghệ Nhân tố khoa học công nghệ ngày càng quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến môi trường cạnh tranh. Trên thế giới đã chuyển từ cạnh tranh giá cả sang cạnh tranh về chất lượng sản phẩm và dịch vụ có áp dụng công nghệ cao. Trong thời kỳ khoa SV: Lê Thị Hường 10 Lớp: K7HQ1A1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GVHD: Th.S Hoàng Thị Phi Yến Khoa Quản trị doanh nghiệp học công nghệ phát triển như vũ bão thì vòng đời của sản phẩm sẽ bị rút ngắn lại.
Do vậy để chiến thắng trong cạnh tranh thì doanh nghiệp phải luôn đổi mới trang thiết bị, sử dụng các công nghệ hiện đại để tạo ra những lợi thế hơn hẳn so với đối thủ cạnh tranh. Ngày nay công nghệ hiện đại còn cung cấp cho doanh nghiệp thông tin về thị trường, đối thủ cạnh tranh một cách nhanh chóng và chính xác. Khoa học hiện đại sẽ tạo ra thế hệ mới, vừa nâng cao hiệu quả sản xuất vừa bảo vệ được môi trường và như vậy trong cạnh tranh sẽ có lợi hơn so với công nghệ lạc hậu. Văn hóa – xã hội Phong tục tập quán, lối sống, thị hiếu, phong cách, văn hóa… của người dân có ảnh hưởng gián tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các tiêu thức tiêu dùng của khách hàng.
Mỗi khu vực, thị trường, vùng miền khác nhau thì người tiêu dùng có cách thức, yêu cầu khác nhau trong lựa chọn sản phẩm tiêu dùng, doanh nghiệp cần nắm bắt các yếu tố về môi trường văn hóa xã hội để điều chỉnh các sản phẩm, dịch vụ của mình cho phù hợp nhằm tối đa hóa doanh thu, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên từng phân đoạn thị trường. Tự nhiên Bao gồm những tài nguyên thiên nhiên của đất nước, vị trí địa lý. Nhân tố này tạo ra những điều kiện thuận lợi và khó khăn trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi sẽ giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí và do đó tăng khả năng cạnh tranh.
Hơn nữa vị trí địa lý thuận lợi sẽ giúp cho doanh nghiệp khuyếch trương sản phẩm, mở rộng thị trường. Ngược lại, nhân tố tự nhiên không thuận lợi sẽ tạo khó khăn cho doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó. Chính trị, luật pháp Các nhân tố chính trị pháp luật tác động đến môi trường kinh doanh theo các hướng khác nhau, chúng có thể tạo ra lợi thế và trở ngại, thậm chí là rủi ro cho doanh nghiệp. Một thể chế pháp luật rõ ràng, mở rộng và ổn định sẽ là cơ sở đảm bảo cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh có hiệu quả.
Chẳng hạn các luật thuế có ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện cạnh tranh, đảm bảo cho sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và trên mọi lĩnh vực. SV: Lê Thị Hường 11 Lớp: K7HQ1A1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GVHD: Th.S Hoàng Thị Phi Yến Khoa Quản trị doanh nghiệp f. Môi trường toàn cầu Ngày nay, nhiều nhà chiến lược đã gọi điều đó dưới cái tên thế giới là “ ngôi nhà chung”. Trong bối cảnh đó môi trường quốc tế là một trường hợp đặc biệt của môi trường chung bên ngoài doanh nghiệp.
Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN đã và đang tạo ra nhiều vận hội cho các doanh nghiệp Việt Nam về đầu tư, về thị trường nhưng cũng đang có nhiều thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam phải đương đầu. Tự do hóa thương mại khu vực, phá bỏ hàng rào thuế quan là những đe dọa rất lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Hơn nữa, bản thân ASEAN cũng phải đặt trong mối quan hệ toàn cầu của cạnh tranh thế giới, chẳng hạn với khối EU, Bắc Mỹ (NAFTA), với Nhật Bản, Trung Quốc,… Kể từ năm 1988, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) Gần đây nhất, Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO). Việt Nam sẽ được mở rộng thị trường xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới, không bị đối xử phân biệt trong thương mại quốc tế.
Nhưng chiều ngược lại, những thách thức trong cạnh tranh thế giới sẽ quyết liệt hơn. Các nhân tố thuộc môi trường ngành a. Đối thủ cạnh tranh hiện tại Lực lượng thứ nhất trong số 5 lực lượng của mô hình M. Porter là quy mô cạnh tranh trong số các doanh nghiệp hiện tại của ngành.
Nếu các đối thủ cạnh tranh càng yếu, doanh nghiệp có cơ hội để tăng giá bán và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn. Ngược lại khi các đối thủ cạnh tranh hiện tại mạnh thì sự cạnh tranh về giá cả là đáng kể, mọi cuộc cạnh tranh về giá cả đều dẫn đến những tổn thương. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong một ngành thường bao gồm các nội dung chủ yếu: cơ cấu cạnh tranh ngành, thực trạng cầu của ngành, các rào cản gia nhập và rút lui. - Cơ cấu cạnh tranh của ngành dựa vào số liệu và khả năng phân phối sản phẩm cả doanh nghiệp trong ngành sản xuất.
Cơ cấu cạnh tranh khác nhau có các ứng dụng khác nhau cho cạnh tranh. Cơ cấu cạnh tranh thay đổi từ ngành sản xuất phân tán tới ngành sản xuất tập trung. Thông thường ngành riêng lẻ bao gồm một số lớn SV: Lê Thị Hường 12 Lớp: K7HQ1A1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GVHD: Th.S Hoàng Thị Phi Yến Khoa Quản trị doanh nghiệp các doanh nghiệp vừa và nhỏ, không có một doanh nghiệp nào trong số đó có vị trí thống trị ngành. Trong khi đó một ngành tập trung có sự chi phối bởi một số ít các doanh nghiệp lớn, thậm chí chỉ một doanh nghiệp duy nhất gọi là độc quyền.
Bản chất và mức độ cạnh tranh đối với các ngành tập trung rất khó phân tích và dự đoán. - Tình trạng cầu của một ngành là một yếu tố quyết định khác về tính mãnh liệt trong cạnh tranh nội bộ ngành. Thông thường, cầu tăng tạo cho doanh nghiệp một cơ hội lớn để mở rộng hoạt động. Ngược lại, cầu giảm dẫn đến cạnh tranh khốc liệt để các doanh nghiệp giữ được phần thị trường đã chiếm lĩnh.
Đe dọa mất thị trường là điều khó tránh khỏi đối với các doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh. - Rào cản gia nhập và rút lui là mối đe dọa cạnh tranh nghiêm trọng khi cầu của ngành giảm mạnh hoặc tăng nhanh. Hàng rào gia nhập và rút lui là kinh tế, là chiến lược và là quan hệ tình cảm giữ doanh nghiệp trụ lại. Nếu rào cản gia nhập và rút lui cao, các doanh nghiệp có thể bị khóa chặt trong một ngành sản xuất không ưa thích, khó khăn trong vấn đề gia nhập một lĩnh vực kinh doanh khác.
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Lực lượng thứ hai cần phân tích là phán đoán đối với doanh nghiệp là các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn. Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnh tranh trong cùng một ngành sản xuất, nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và quyết định gia nhập ngành. Đây là đe dọa cho các doanh nghiệp hiện tại. Các doanh nghiệp hiện tại cố gắng ngăn cản các đối thủ tiềm ẩn muốn gia nhập ngành bởi vì càng nhiều doanh nghiệp có trong một ngành sản xuất thì cạnh tranh càng khốc liệt hơn, thị trường và lợi nhuận sẽ bị chia sẻ, vị trí của doanh nghiệp sẽ thay đổi.
Sức ép của khách hàng Đây là lực lượng tạo ra khả năng mặc cả của người mua. Người mua có thể được xem như là một sự đe dọa cạnh tranh khi họ buộc doanh nghiệp giảm giá hoặc có nhu cầu chất lượng cao và dịch vụ tốt hơn. Ngược lại, khi người mua yếu sẽ mang đến cho doanh nghiệp một cơ hội để tăng giá kiếm được lợi nhuận nhiều hơn. Người mua gồm: người tiêu dùng cuối cùng, các nhà phân phối (bán buôn, bán lẻ) và các nhà mua công nghiệp.
SV: Lê Thị Hường 13 Lớp: K7HQ1A1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GVHD: Th.S Hoàng Thị Phi Yến Khoa Quản trị doanh nghiệp d.