LỜI MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Thị trường chứng khoán từ khi ra đời đến nay đã trải quá rất nhiều thăng trầm sóng gió. Nhất là vào khoảng thời gian cuối năm 2006 đến đầu năm 2007 thì sự bùng nổ của thị trường chứng khoán đồng thời kéo theo sự ra đời của hàng loạt công ty chứng khoán. Từ con số 7 công ty chứng khoán từ năm 2000, đến nay đã tăng trên 100 công ty chứng khoán là thành viên chính thức của sàn giao dịch Hà Nội và sàn giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh.
Cuộc chạy đua giành thị phần trong từng nghiệp vụ kinh doanh của các công ty chứng khoán càng trở nên khốc liệt. Nhất là trong thời điểm thị trường chứng khoán không ổn định và có dấu hiệu tích lũy sau một thời gian tăng trưởng nóng như hiện nay. Hậu quả của khủng hoảng tài chính – kinh tế đã kéo theo sau nhiều vấn đề. Các hoạt động môi giới và thu nhập từ phí thu hẹp lại, các công ty chứng khoán với số vốn nhỏ hoặc bị cạn vốn trong kinh doanh đồng thời cũng bị giảm hoặc không có thu nhập từ các hoạt động kinh doanh.
Ngoài ra, các công ty chứng khoán với thị phần môi giới và nguồn tài chính dồi dào từ các ngân hàng liên minh cũng gặp khó khăn chính bởi hoạt động sử dụng đòn bẫy tài chính khi họ cung cấp các tài khoản cho vay ký quỹ và hạn mức dễ dãi. Bên cạnh đó, với chính sách thắt chặt tiền tệ để giảm lạm phát của nhà nước đã đẩy lãi suất lên cao, gây khó khăn cho nền kinh tế, trong đó có thị trường chứng khoán. Với hoạt động nghiệp vụ môi giới chứng khoán không thu được nhiều lợi nhuận như trước, các công ty chứng khoán đầu tư phát triển nghiệp vụ tự doanh nhưng đây lại là cái bẩy gây thua lỗ cho rất nhiều công ty trong lúc thị trường nhiều rủi ro như thế này. Các công ty chỉ còn cách hướng sự phát triển sang các nghiệp vụ khác để đảm bảo được nguồn doanh thu cho công ty.
Do vậy, một đề tài đang được các cơ quan quản lý nhắc đến trong khoảng thời gian gần đây là “Đề án tái cấu trúc công ty chứng khoán”. Bên cạnh đó là “Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020” sẽ gia tăng áp lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán. Với sự cần thiết nghiên cứu về thực trạng kinh doanh, từ đó đưa ra được những giải pháp nhằm hỗ trợ cho sự phát triển và duy trì năng lực cạnh tranh cho công ty chứng khoán sao cho phù hợp với sự phát triển của ngành, tiềm năng của các đối thủ cùng Sinh viên: Nguyễn Đặng Minh Tú Trang 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ Trần Linh Đăng ngành, những chính sách mới của nhà nước và những bước chuyển bình tiếp theo của nền kinh tế, tôi lựa chọn đề tài Thực trạng và giải pháp năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán Hồ Chí Minh (HSC). MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Đề tài được nghiên cứu nhằm những mục đích chủ yếu sau: - Tìm hiểu những vấn đề về chính sách vĩ mô liên quan đến công ty chứng khoán.
- Nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về Công ty chứng khoán HSC. Từ đó, phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán HSC so với một số công ty chứng khoán Việt Nam tiêu biểu. - Tìm hiểu, nêu lên quá trình hình thành và phát triển của công ty HSC. Thông qua những kết quả phân tích để đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.
PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI Đề tài có sử dụng các phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, tổng hợp, phương pháp biện chứng duy vật. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đề tài tập trung vào việc nêu lên được thực trạng và giải pháp nâng cao năng lự cạnh tranh của công ty chứng khoán HSC nên cơ sở dữ liệu lấy từ các báo cáo tài chính của công ty và các thống kê có sẵn trên các trang thông tin tài chính. Ngoài ra, để đưa ra được những đánh giá thì tôi có sử dụng dữ liệu của một số công ty chứng khoán tiêu biểu (theo từng nghiệp vụ, từng mục đích) để so sánh và có cái nhìn tổng quát. Do hạn chế về tính chất đề tài trong Báo cáo thực tập tốt nghiệp, hạn chế về thời gian nên số liệu nghiên cứu trong các báo cáo tài chính tôi sử dụng trong các năm 2009, 2010 và 2011.
Ngoài ra, do tôi là sinh viên ngành Tài chính nên những chỉ tiêu tôi sử dụng so sánh và đánh giá liên quan đến các con số doanh thu, lợi nhuận, chi phí,… Các đánh giá về các nhân tố trong ngoài tác động đến công ty sẽ không được so sánh mà chỉ sử dụng trong việc nêu lên những vấn đề, nguyên nhân, giải pháp nhằm duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty chứng khoán Hồ Chí Minh. Sinh viên: Nguyễn Đặng Minh Tú Trang 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ Trần Linh Đăng PHẦN 1. CÁC VẤN DỀ LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 2. Khái niệm công ty chứng khoán Theo quyết định 27/2007/QĐ của Bộ Tài chính, công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán.
Một số loại hình công ty chứng khoán: Công ty môi giới chứng khoán (Securites Brokerage Firm) Công ty bảo lãnh phát hành – Công ty ngân hàng đầu tư (Investment Banking Firm) Công ty đầu tư chứng khoán Công ty dịch vụ đa năng 2. Vai trò, chức năng công ty chứng khoán Các công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ các công ty chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu lưu thông buôn bán tấp nập trên thị trường chứng khóan, qua đó, một lượng vốn khổng lồ được đưa vào đầu tư từ việc tập hợp những nguồn vốn lẻ tẻ trong công chúng. Công ty chứng khoán có 3 chức năng chủ yếu trên thị trường tài chính: Tạo ra cơ chế huy động vốn bằng cách nối những người có tiền (nhà đầu tư) với những người muốn huy động vốn (người phát hành chứng khoán).
Cung cấp một cơ chế giá cả cho giá trị của các khoản đầu tư Cung cấp cơ chế chuyển ra tiền mặt cho các nhà đầu tư Khi thực hiện các chức năng của mình, các công ty chứng khoán cũng tạo ra sản phẩm, vì các công ty này hoạt động với tư cách đại lý hay công ty ủy thác trong quá trình mua bán các chứng khoán được niêm yết và không được niêm yết, đồng thời cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư cho các cá nhân đầu tư, các công ty cổ phần và cả chính phủ. Sinh viên: Nguyễn Đặng Minh Tú Trang 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ Trần Linh Đăng Vai trò của công ty chứng khoán thể hiện qua các nghiệp vụ của các công ty chứng khoán là: Huy động vốn: Các ngân hàng, các công ty chứng khoán và các quỹ đầu tư đều là các trung gian tài chính với vai trò huy động vốn. Nói một cách đơn giản, các tổ chức này có vai trò làm chiếc cầu nối và đồng thời là các kênh dẫn cho vốn chảy từ một hay một số bộ phận nào đó của nền kinh tế có dư thừa vốn (vốn nhà rỗi) đến các bộ phận khác của nền kinh tế đang thiếu vốn (cần huy động vốn). Các công ty chứng khoán thường đảm niệm vai trò này qua các hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán.
Cung cấp một cơ chế giá cả: Ngành công nghiệp chứng khoán nói chung, các công ty chứng khoán nói riêng, thông qua các sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC, có chức năng cung cấp một cơ chế giá cả nhằm giúp nhà đầu tư có được sự đánh gá đúng thực tế và chính xác về giá trị khoản đầu tư của mình. Các sở giao dịch chứng khoán niêm yết, giá cổ phiếu của các công ty từng ngày một trên các báo tài chính. Ngoài ra, chứng khoán của nhiều công ty lớn không được niêm yết ở sở giao dịch cũng có thể được công bố trên các báo cáo tài chính. Công ty chứng khoán còn có một chức năng quan trọng là can thiệp trên thị trường, góp phần điều tiết giá chứng khoán.
Theo quy định của các nước, công ty chứng khoán bắt buộc phải dành ra một tỷ lệ nhất định giao dịch của mình để mua chứng khoán vào khi giá chứng khoán trên thị trường giảm và bán ra khi giá chứng khoán tăng cao. Cung cấp một cơ chế chuyển ra tiền mặt: Các nhà đầu tư luôn muốn có được khả năng chuyển tiền mặt thành chứng khoán có giá và ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn định. Các công ty chứng khao1n đảm nhận được chức năng chuyển đồi này, giúp cho nàh đầu tư phải chịu ít thiệt hại nhất khi tiến hành đầu tư. Chẳng hạn, trong hầu hết các nghiệp vụ đầu tư ở sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC ngày nay, một số nhà đầu tư có thể hàng ngày chuyển đổi tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại mà không phải chịu thiệt hại đáng kể đối với giá trị khoản đầu tư của mình (ít nhất thì cũng không chịu thiệt hại do cơ chế giao dịch chứng khoán gây nên).Nói các khác, có thể có một số nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến giá trị đầu tư, chẳng hạn như tin đồn về một vấn đề nào đó trong nền kinh tế, nhưng giá trị khoản đầu tư nói chung không giảm đi do cơ chế mua bán.
Thực hiện tư vấn đầu tư: Các công ty chứng khoán với đầy đủ các dịch vụ không chỉ thực hiện mệnh lệnh của khách hàng, mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn Sinh viên: Nguyễn Đặng Minh Tú Trang 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ Trần Linh Đăng khác nhau thông qua việc nghiên cứu thị trường rồi cung cấp các thông tin đó cho các công ty và các cá nhân đầu tư.