Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), buộc các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt trực tiếp với áp lực cạnh tranh gay gắt từ thị trường quốc tế. Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) được trích dẫn trong văn bản, năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên các cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm đều ở mức thấp và chậm cải thiện. Trong nhóm nông sản, mía đường là mặt hàng có khả năng cạnh tranh yếu, thường xuyên chịu biến động bất lợi trước giá đường thế giới vốn được bảo hộ và trợ cấp cao ở nhiều quốc gia. Thực tiễn sản xuất trong nước bộc lộ nghịch lý: dù nghề trồng mía có truyền thống lâu đời và đường được Chính phủ xác định là mặt hàng trọng yếu thuộc diện quản lý có điều kiện, nhưng sản xuất không ổn định, tốc độ tăng trưởng chậm, có giai đoạn phải nhập khẩu hàng chục vạn tấn đường mỗi năm để đáp ứng nhu cầu nội địa.

Mục tiêu tổng quát và các nhiệm vụ nghiên cứu của đề án được xác định cụ thể như sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh ngành và quy trình công nghệ sản xuất mía đường cùng các sản phẩm phụ.
  2. Khảo sát bức tranh thị trường sản xuất, xuất khẩu và tiêu thụ mía đường trên thế giới trong giai đoạn 2005–2008.
  3. Đánh giá toàn diện thực trạng sản xuất, chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu mía đường của Việt Nam giai đoạn 2001–2007; phân tích những bất cập về quy mô, công nghệ, giá cả, nạn buôn lậu và tác động của tiến trình hội nhập AFTA, WTO.
  4. Đề xuất hệ thống chỉ tiêu phát triển đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành mía đường Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ngành mía đường Việt Nam, bao gồm hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng mía nguyên liệu), công nghiệp chế biến và thương mại (tiêu thụ nội địa, xuất nhập khẩu). Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát các vùng trồng mía trọng điểm trên cả nước (Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng sông Hồng) trong mối tương quan so sánh với các quốc gia sản xuất đường lớn như Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Australia, Cuba, EU. Phạm vi thời gian tập trung vào số liệu thực tế giai đoạn 2001–2007, các niên vụ sản xuất 2002/2003 đến 2006/2007, cùng định hướng quy hoạch phát triển đến năm 2010 và tầm nhìn 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Đề án sử dụng khung lý luận về cạnh tranh và mô hình các nhân tố tạo lập lợi thế cạnh tranh ngành (mô hình Kim cương) của Michael Porter. Khung lý thuyết này phân tích năng lực cạnh tranh ngành dựa trên bốn nhóm yếu tố:

  • Điều kiện các yếu tố sản xuất: Phân chia thành yếu tố cơ bản (tài nguyên đất đai, khí hậu, vị trí địa lý, lao động giản đơn) và yếu tố tiên tiến (cơ sở hạ tầng, viễn thông, kỹ thuật hiện đại, nhân lực chuyên môn cao do đào tạo và chính sách tạo nên).
  • Điều kiện về cầu: Tiềm năng, quy mô và đòi hỏi khắt khe của thị trường nội địa kết hợp cùng khả năng thích ứng với thị trường ngoài nước.
  • Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: Mối liên kết dọc và ngang giữa đơn vị cung ứng đầu vào, sản xuất và phân phối.
  • Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành: Số lượng doanh nghiệp, rào cản gia nhập/rút lui và cường độ cạnh tranh trong nước thúc đẩy đổi mới.

Về mặt kỹ thuật công nghệ, đề án mô tả chi tiết quy trình chế biến mía đường công nghiệp gồm 6 công đoạn:

  1. Ép dập: Sử dụng các bộ nghiền 3 trục để tách nước mía, tận dụng bã mía làm nhiên liệu đốt lò hơi sinh hơi áp suất cao và phát điện.
  2. Tinh chế nước mía: Xử lý tạp chất bằng khí $\text{SO}_2$ và vôi, gia nhiệt, điều chỉnh độ pH đạt 8,0–8,5 rồi lọc qua bộ lọc chân không.
  3. Chưng cất (cô đặc): Cô đặc chân không nhiều tầng nâng hàm lượng đường saccaroza lên 55–65%.
  4. Kết tinh đường: Chưng cất trong nồi chân không đến trạng thái bão hòa tạo hỗn hợp tinh thể và mật (massecuite).
  5. Phân tách ly tâm: Dùng thiết bị quay ly tâm kiểu giỏ tách đường thô (loại A, B, C) và mật rỉ; đường thô tiếp tục tinh luyện, đóng gói.
  6. Chưng cất cồn và xử lý phụ phẩm: Mật rỉ được lên men chưng cất thành cồn $95\text{–}96%$ và thải ra $12\text{–}13$ lít vinasse giàu hữu cơ cho mỗi lít cồn (dùng làm phân bón cung cấp N, P, K).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả thực hiện là phương pháp phân tích kinh tế thực chứng, thống kê mô tả, tổng hợp và so sánh đối chiếu số liệu thứ cấp liên ngành. Nguồn dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu được trích xuất từ:

  • Báo cáo và số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA).
  • Số liệu thống kê của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO), Tổ chức Đường Thế giới (ISO), Báo cáo mạng lưới thông tin nông nghiệp toàn cầu GAIN Report (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ).
  • Thông tin thị trường từ các hãng thông tấn Reuters, AFP và cơ quan hải quan địa phương.
  • Các văn bản quy phạm pháp luật và quyết định điều hành của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg, Quyết định số 28/2004/QĐ-TTg, Quyết định số 26/2007/QĐ-TTg.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Lý luận chung về năng lực cạnh tranh của ngành mía đường

Chương I tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng về cạnh tranh kinh tế, chỉ ra rằng sở hữu là điều kiện tiên quyết để cạnh tranh diễn ra. Tác giả vận dụng lý thuyết của Michael Porter để luận giải năng lực cạnh tranh của một ngành phụ thuộc quyết định vào các yếu tố tiên tiến và khả năng thích ứng của doanh nghiệp. Về mặt kỹ thuật, chương này cung cấp định mức sản xuất: trung bình 1 tấn mía cây chiết xuất được khoảng 100 kg đường tinh luyện; mỗi giỏ 60 kg đường tinh luyện cho ra $25\text{–}30$ kg mật rỉ, sau lên men chưng cất thu được 1 lít cồn $95\text{–}96%$.

Thông số dây chuyền Dây chuyền quy mô nhỏ Dây chuyền quy mô trung bình
Công suất 4.000 tấn/tháng 16.000 tấn/tháng
Thời gian vận hành ngày 8 giờ/ngày 24 giờ/ngày
Thời gian vận hành tháng 25 ngày/tháng 30 ngày/tháng
Chu kỳ sản xuất năm 120 ngày/năm 150 ngày/năm

Về thị trường thế giới, tác giả tổng hợp diễn biến cung - cầu giai đoạn 2005–2008:

Chỉ tiêu toàn cầu (triệu tấn) Niên vụ 2005–2006 Niên vụ 2006–2007 Dự kiến 2007–2008
Tổng sản lượng đường 144,92 161,29 163,27
Tổng mức tiêu dùng 142,41 148,92 149,43
Tổng mức xuất khẩu 46,63 48,76 50,86
Tổng dự trữ cuối kỳ 32,16 39,31 45,06

Chương I cũng phân tích trường hợp cụ thể của các quốc gia: Brazil dự kiến đạt 32,85 triệu tấn vụ 2007/08, phát triển mạnh ethanol; Ấn Độ đạt kỷ lục 28,79 triệu tấn vụ 2007/08 với diện tích 4,7 triệu ha mía và tăng dự trữ quốc gia lên 5 triệu tấn; Trung Quốc đạt 12,95 triệu tấn; Thái Lan đạt 6,9 triệu tấn; Cuba thực hiện tái cơ cấu đóng cửa một nửa trong số 156 nhà máy từ năm 2002 và chủ trương không dùng mía đường sản xuất nhiên liệu sinh học quy mô lớn mà tập trung phát điện từ bã mía và làm dược phẩm/rượu rum; Sudan triển khai chiến lược 10 năm gồm 13 dự án (tiêu biểu là Eljazeera) hướng tới sản xuất 10 triệu tấn đường vào năm 2015.

Chương II: Thực trạng sản xuất và xuất khẩu mía đường của Việt Nam trong thời gian qua

Chương II phản ánh bức tranh toàn diện về ngành mía đường Việt Nam qua các giai đoạn thăng trầm:

Năm 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Dự báo 2010 Tầm nhìn 2020
Sản lượng đường (triệu tấn) 1,200 1,318 0,601 1,244 1,500 1,420 1,500 2,100
  • Giai đoạn 2001–2005: Ngành đường rơi vào khủng hoảng tài chính trầm trọng do "hội chứng đầu tư" tự phát thiếu quy hoạch thập niên 90. Năm 2001, 33 doanh nghiệp mía đường lỗ hơn 2.000 tỷ đồng; trong 6 tổng công ty mất toàn bộ vốn nhà nước thì có Tổng công ty Mía đường I và II. Thực hiện Quyết định số 28/2004/QĐ-TTg ngày 03/4/2004, 7 nhà máy đường dừng hoạt động hoặc chuyển đổi địa bàn (Việt Trì, Quảng Nam, Bình Thuận, Bình Dương, Trị An, Kiên Giang...).
  • Giai đoạn 2006–2007: Ngành phục hồi nhờ sắp xếp lại sản xuất và đẩy mạnh cổ phần hóa. Đến thời điểm nghiên cứu, 28/36 nhà máy đường đã hoàn tất cổ phần hóa, 90% doanh nghiệp làm ăn có lãi (tiêu biểu như CTCP Mía đường Cần Thơ đạt doanh thu 600 tỷ đồng niên vụ 2006–2007, chia cổ tức 30%).
  • Thực trạng xuất nhập khẩu và biến động giá: Dù có giai đoạn dư thừa phải xuất khẩu giải tỏa áp lực tồn kho (như Tate&Lyle Nghệ An xuất 20.950 tấn sang Indonesia, Đường Biên Hòa xuất 13.500 tấn sang Malaysia năm 2003), Việt Nam vẫn phải nhập khẩu đường do mất cân đối mùa vụ (nhập khoảng 100.000 tấn/năm trong 2003–2004 và 150.000 tấn năm 2005). Giá đường nội địa biến động mạnh: vụ 2002–2003 dao động 3.600–6.000 đồng/kg; vụ 2004–2005 lập đỉnh 7.200–8.500 đồng/kg do hạn hán, thiếu hụt 1,5 triệu tấn mía và hiện tượng một số nhà máy găm hàng; vụ 2006–2007 ở mức 7.000–7.600 đồng/kg.
  • Nạn đường lậu và phân bố vùng nguyên liệu: Chênh lệch giá khiến đường Thái Lan thẩm lậu ồ ạt qua biên giới Tây Nam (khu vực Gò Tà Mâu, Ôm Xà Nơ qua An Giang với lượng 50–100 tấn/ngày). Về nguyên liệu, diện tích và sản lượng biến động lớn giữa các vùng:
Vùng sinh thái Diện tích năm 2001 (nghìn ha) Diện tích năm 2006 (nghìn ha) Sản lượng năm 2001 (nghìn tấn) Sản lượng năm 2006 (nghìn tấn)
Cả nước 290,7 285,1 14.656,9 15.678,6
ĐBS Sông Hồng 2,9 2,0 130,1 108,1
Đông Bắc 15,0 11,9 593,6 552,6
Tây Bắc 10,6 10,7 508,0 545,0
Bắc Trung Bộ 50,6 57,2 2.693,5 2.970,2
Duyên hải Nam Trung Bộ 53,0 48,2 2.345,0 2.186,2
Tây Nguyên 27,2 30,7 1.190,8 1.452,2
Đông Nam Bộ 55,0 55,2 2.765,9 2.918,5
ĐBS Cửu Long 76,4 69,2 4.430,0 4.945,8

Tác giả chỉ rõ 5 điểm yếu cốt tử: Năng suất mía bình quân thấp ($53,93$ tấn/ha so với thế giới 80 tấn/ha); quy mô nông hộ quá nhỏ ($0,3\text{–}0,5$ ha/hộ); tỷ lệ thu hồi đường của nhà máy chỉ đạt 9/1 (các nước tiên tiến đạt 13/1); chữ đường thấp do ĐBSCL phải thu hoạch non né lũ còn miền Đông thiếu nước tưới; áp lực cắt giảm thuế quan AFTA (giảm từ 30% năm 2007 xuống 5% năm 2010) và cam kết WTO (hạn ngạch thuế quan ban đầu 55.000 tấn, tăng 5%/năm).

Chương III: Phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu mía đường của Việt Nam

Chương III trình bày mục tiêu phát triển theo Quyết định số 26/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và hệ thống các giải pháp thực thi:

Chỉ tiêu ngành mía đường Mục tiêu đến năm 2010 Định hướng đến năm 2020
Tổng sản lượng đường 1,5 triệu tấn (1,4 triệu tấn công nghiệp; 100 nghìn tấn thủ công) 2,1 triệu tấn (1,5 triệu tấn luyện; 500 nghìn tấn trắng; 100 nghìn tấn thủ công)
Tổng diện tích trồng mía 300.000 ha (vùng tập trung: 250.000 ha) 300.000 ha (thâm canh, có tưới)
Năng suất mía bình quân 65 tấn/ha 80 tấn/ha
Chữ đường bình quân 11 CCS 12 CCS
Tổng sản lượng mía cây 19,5 triệu tấn 24,0 triệu tấn
Tổng công suất thiết kế nhà máy 105.000 tấn mía/ngày 120.000 tấn mía/ngày

Phân bổ công suất thiết kế và diện tích vùng nguyên liệu 4 vùng trọng điểm đến năm 2010:

  • Bắc Trung Bộ: Công suất 35.000 tấn mía/ngày; diện tích 80.000 ha.
  • Đồng bằng sông Cửu Long: Công suất 19.800 tấn mía/ngày; diện tích 52.000 ha.
  • Duyên hải miền Trung & Tây Nguyên: Công suất 16.300 tấn mía/ngày; diện tích 53.000 ha.
  • Đông Nam Bộ: Công suất 14.900 tấn mía/ngày; diện tích 37.000 ha.

Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp thực hiện:

  1. Quy hoạch: Không xây mới nhà máy đường; đầu tư chiều sâu, nâng cao hiệu suất thu hồi và đa dạng hóa sản phẩm (cồn, điện, phân vi sinh).
  2. Vùng nguyên liệu: Khuyến khích dồn điền đổi thửa, liên kết hợp đồng tiêu thụ theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg giữa nhà máy và nông hộ.
  3. Khoa học công nghệ: Hoàn thành Đề án giống mía 3 cấp (2003–2008), xây dựng viện nghiên cứu giống, chuyển giao kỹ thuật canh tác và áp dụng tiêu chuẩn ISO cho toàn bộ nhà máy vào năm 2010.
  4. Đầu tư cơ sở hạ tầng: Ngân sách hỗ trợ giống, thủy lợi đầu mối (kênh cấp 1, 2), phấn đấu trên 40% diện tích mía được chủ động tưới vào năm 2010 và đẩy mạnh cơ giới hóa.
  5. Tiêu thụ và xúc tiến thương mại: Bộ Nông nghiệp & PTNT cùng Bộ Thương mại và VSSA điều hành cân đối cung - cầu, xây dựng thương hiệu hàng hóa.
  6. Tổ chức sản xuất: Hoàn thành dứt điểm xử lý tài chính theo Quyết định 28/2004/QĐ-TTg, củng cố hợp tác xã và phát huy vai trò điều tiết thị trường, lập quỹ bảo hiểm mía đường của VSSA.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể sau:

  • Cung cấp chuỗi số liệu thực tế về sản lượng đường Việt Nam (biến động từ 1,2 triệu tấn năm 2002 xuống 0,601 triệu tấn năm 2004 và đạt 1,42 triệu tấn năm 2007), số liệu diện tích - sản lượng của 8 vùng kinh tế sinh thái giai đoạn 2001–2006 và biến động giá đường nội địa qua các niên vụ.
  • Định lượng rõ ràng các chỉ tiêu kỹ thuật - kinh tế yếu kém của ngành đường trong nước so với quốc tế: năng suất mía đạt $53,93$ tấn/ha (thế giới đạt 80 tấn/ha, Úc và Mexico đạt 100 tấn/ha); tỷ lệ thu hồi đường đạt 9/1 (các nước tiên tiến là 13/1, chênh lệch 4 giá); diện tích canh tác manh mún $0,3\text{–}0,5$ ha/hộ dẫn đến việc 1 nhà máy phải ký hợp đồng với $20.000\text{–}30.000$ nông hộ.
  • Hệ thống hóa các giải pháp chính sách gắn liền với các mốc quy định pháp lý (Quyết định 80/2002/QĐ-TTg, Quyết định 28/2004/QĐ-TTg, Quyết định 26/2007/QĐ-TTg), vạch ra định hướng phát triển chuỗi giá trị phụ phẩm (bã mía sinh năng lượng, mật rỉ sản xuất cồn, bã bùn làm phân vi sinh).
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Làm rõ tác động kép của việc gia nhập WTO và thực thi lộ trình thuế AFTA lên ngành mía đường; phân tích nguyên nhân nội tại từ khâu canh tác nông nghiệp đến công nghệ chế biến thay vì chỉ quy kết cho áp lực mở cửa thương mại đơn thuần.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Các số liệu thống kê trong đề án dừng lại ở mốc năm 2007, các chỉ tiêu cho giai đoạn 2007/2008, 2010 và 2020 chủ yếu dựa trên số liệu dự báo và quy hoạch định hướng của Chính phủ. Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, chưa xây dựng mô hình định lượng để kiểm định mức độ tương quan giữa giá đường thế giới, thuế suất nhập khẩu và tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp chế biến.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi và đánh giá tác động thực tế của việc cắt giảm thuế nhập khẩu đường về mức 5% vào năm 2010 theo cam kết AFTA; phân tích hiệu quả vận hành thực tế của các nhà máy đường sau khi hoàn tất 100% tiến trình cổ phần hóa; nghiên cứu sâu về các mô hình kinh tế tuần hoàn trong việc thương mại hóa phụ phẩm cồn sinh học và điện sinh khối từ bã mía.

Giá trị tham khảo

Đề án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, giảng viên chuyên ngành Kinh tế Thương mại, Thương mại Quốc tế, Kinh tế Nông nghiệp và Quản trị Kinh doanh khi nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ngành hàng nông sản trong thời kỳ đầu gia nhập WTO.
  • Các nhà quản lý, hoạch định chính sách tại các địa phương có vùng mía nguyên liệu, giúp tham chiếu bài học kinh nghiệm về việc sắp xếp, cơ cấu lại nhà máy đường theo Quyết định 28/2004/QĐ-TTg và quy hoạch vùng tập trung theo Quyết định 26/2007/QĐ-TTg.
  • Phần đáng tham khảo nhất là bức tranh số liệu chi tiết phân bổ diện tích - sản lượng mía theo 8 vùng địa lý giai đoạn 2001–2006 và mô tả các công đoạn công nghệ cùng định mức sử dụng phụ phẩm mía đường.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguyên nhân chính khiến tỷ lệ thu hồi đường của các nhà máy tại Việt Nam thấp hơn đáng kể so với các nước tiên tiến là gì?
Theo số liệu trong văn bản, tỷ lệ thu hồi đường của Việt Nam chỉ đạt khoảng 9/1 (9 tấn mía cho 1 tấn đường), trong khi các nước tiên tiến đạt 13/1. Nguyên nhân chủ yếu do đa số thiết bị máy móc tại các nhà máy đã cũ kỹ, công nghệ chế biến lạc hậu, cộng với việc quy mô sản xuất nhỏ lẻ làm tăng tỷ lệ hao hụt trong quá trình chiết xuất và kết tinh.

2. Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng như thế nào đến chữ đường của cây mía tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ?
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có nguồn nước dồi dào nhưng chịu ảnh hưởng của mùa lũ, buộc nông dân phải thu hoạch mía sớm để tránh ngập úng khiến cây mía chưa đủ thời gian tích lũy đường, dẫn đến năng suất cây cao nhưng chữ đường thấp. Ngược lại, vùng Đông Nam Bộ có chữ đường cao nhưng lại thiếu nước tưới do hạ tầng thủy lợi phục vụ cho cây mía còn nhiều khó khăn.

3. Tiến trình tái cơ cấu và cổ phần hóa các nhà máy đường diễn ra như thế nào sau Quyết định số 28/2004/QĐ-TTg?
Thực hiện Quyết định số 28/2004/QĐ-TTg, 7 nhà máy đường hoạt động kém hiệu quả đã ngừng hoạt động hoặc chuyển đổi (Việt Trì, Quảng Nam, Bình Thuận, Bình Dương, Trị An, Kiên Giang...). Đến niên vụ 2006–2007, trong tổng số 36 nhà máy sản xuất đường đang hoạt động đã có 28 nhà máy hoàn thành cổ phần hóa, giúp các doanh nghiệp nâng cao quyền tự chủ và 90% đơn vị làm ăn có lãi.

4. Lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu và mở cửa thị trường đường của Việt Nam theo cam kết AFTA và WTO được quy định ra sao?
Theo lộ trình AFTA, thuế nhập khẩu đường của Việt Nam giảm dần từ 30% năm 2007 xuống 20% năm 2008, 10% năm 2009 và còn 5% vào năm 2010. Đối với WTO, Việt Nam cam kết mở cửa nhập khẩu hạn ngạch thuế quan ban đầu là 55.000 tấn vào năm 2007 (tăng 5% mỗi năm tiếp theo), với thuế suất trong hạn ngạch là 40% đối với đường tinh luyện và 20% đối với đường thô.

Kết luận

Đề án môn học đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh ngành theo mô hình Michael Porter, đồng thời phản ánh khách quan thực trạng sản xuất, chế biến và thương mại của ngành mía đường Việt Nam giai đoạn 2001–2007. Nghiên cứu chỉ rõ các nút thắt nội tại về quy mô nông hộ manh mún, công nghệ chế biến lạc hậu và áp lực từ tiến trình hội nhập AFTA, WTO. Trên cơ sở đó, tác giả đã lượng hóa các mục tiêu phát triển đến năm 2010 và 2020, đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ về quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung, dồn điền đổi thửa, chuyển giao công nghệ giống và đa dạng hóa sản phẩm sau đường nhằm nâng cao sức cạnh tranh của ngành.