CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Tổng quan về công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là tổ chức hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán thông qua việc thực hiện một hoặc vài dịch vụ chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Ở Việt Nam, công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật Doanh nghiệp và được UBCKNN cấp Giấy phép thành lập và hoạt động.
Tùy theo vốn điều lệ và đăng ký kinh doanh mà một công ty có thể thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh như: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán. Hiện nay trên thế giới tồn tại ba mô hình tổ chức của công ty chứng khoán: Công ty chứng khoán chuyên doanh: là loại hình công ty chứng khoán chỉ được thực một hoặc một số hoạt động nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán nhất định mà không được thực hiện tất cả các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán. Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập và chuyên môn 8 hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán. Ưu điểm của mô hình này là hạn chế được rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán đi vào chuyên môn hoá sâu trong lĩnh vực chứng khoán để thúc đẩy thị trường phát triển.
Mô hình này được áp dụng khá rộng rãi ở các thị trường Mỹ, Nhật và các thị trường mới nổi như Hàn Quốc, Thái Lan… Tuy nhiên, do xu thế hình thành nên các tập đoàn tài chính khổng lồ nên ngày nay một số thị trường cũng cho phép kinh doanh trên nhiều lĩnh vực tiền tệ, chứng khoán, bảo hiểm, nhưng được tổ chức thành các công ty mẹ, công ty con và có sự quản lý, giám sát chặt chẽ và hoạt động tương đối độc lập với nhau. Công ty kinh doanh chứng khoán đa năng: hoàn toàn là loại hình tổ chức dưới hình thức một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính. Theo đó, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này được biểu hiện dưới 2 hình thức sau: - Loại đa năng một phần:theo mô hình này các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm phải thành lập công ty con hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ.
Mô hình này còn được gọi là mô hình ngân hàng kiểu Anh. - Loại đa năng hoàn toàn:các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch vụ tài chính khác. Mô hình này còn được gọi là mô hình ngân hàng kiểu Đức. Ưu điểm của mô hình này là các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằng việc đa dạng hoá đầu tư.
Ngoài ra, mô hình này còn có ưu điểm là tăng khả năng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trên thị trường tài chính. Mặt khác, các ngân hàng sẽ 9 tận dụng được lợi thế của mình là tổ chức kinh doanh tiền tệ có vốn lớn, cơ sở vật chất hiện đại và hiểu biết rõ về khách hàng cũng như các doanh nghiệp khi họ thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng và tài trợ dự án. Tuy nhiên, mô hình này cũng có những hạn chế, đó là do vừa là tổ chức tín dụng là vừa là tổ chức kinh doanh doanh chứng khoán, do đó khả năng chuyên môn không sâu như các công ty chứng khoán chuyên doanh. Điều này sẽ làm cho thị trường chứng khoán kém phát triển vì các ngân hàng thường có xu hướng bảo thủ và thích hoạt động cho vay hơn là thực hiện các nghiệp vụ của thị trường chứng khoán như: bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư.
Đồng thời, do khó tách bạch được hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán, trong điều kiện môi trường pháp luật không lành mạnh, các ngân hàng dễ gây nên tình trạng lũng đoạn thị trường, và khi đó các biến động trên thị trường chứng khoán sẽ tác động mạnh tới kinh doanh tiền tệ, gây tác động dây chuyền và dẫn đến khủng hoảng thị trường tài chính. Bên cạnh đó, do không có sự tách biệt rõ ràng giữa các nguồn vốn, nên các ngân hàng có thể sử dụng tiền gửi tiết kiệm của dân cư để đầu tư chứng khoán, và khi thị trường chứng khoán biến động theo chiều hướng xấu sẽ tác động tới công chúng thông qua việc ồ ạt rút tiền gửi, làm cho ngân hàng mất khả năng chi trả. Do những hạn chế như vậy, nên sau khi khủng hoảng thị trường tài chính 1929 - 1933, các nước đã chuyển sang mô hình chuyên doanh, chỉ có một số thị trường (như Đức) vẫn còn áp dụng mô hình này. Công ty chứng khoán đa nghiệp vụ: là loại hình công ty chứng khoán được thực hiện nhiều nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán thuộc về công ty chứng khoán khác nhau.
Nhưng để hạn chế xung đột lợi ích giữa các hoạt động nghiệp vụ mà công ty chứng khoán thực hiện thì pháp luật quy định rõ phải tách biệt các hoạt động nghiệp vụ kinh doanh có khả năng dẫn đến xung đột lợi ích. 10 Các ngân hàng, các công ty bảo hiểm muốn kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty chứng khoán trực thuộc có tư cách pháp nhân để tiến hành kinh doanh chứng khoán. Loại hình công ty chứng khoán này có ở các nước thuộc châu Âu lục địa 1. Cạnh tranh của công ty chứng khoán Thuật ngữ “'cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến, rộng rãi trên toàn cầu trong nhiều lĩnh vực như: kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự.
mỗi lĩnh vực lại đưa tới một khái niệm về cạnh tranh theo các góc độ khác nhau cho nên tới hiện nay vẫn chưa có sự nhất trí cao giữa các học giả để đưa ra một khái niệm chính xác nhất về cạnh tranh. Tiếp cận ở góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác. Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa đề từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa những người tiêu dùng với nhau để mua được hàng hóa rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ.
Có quan điểm cho rằng: Cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn phần thắng về mình trong môi trường cạnh tranh. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mực lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Cạnh tranh không phải là “chiến tranh” và cũng không phải là “hòa bình”.
Cạnh tranh không còn là những động thái của tình huống, không phải chỉ là những hành 11 động mang tính thời điểm mà là cả tiến trình tiếp diễn không ngừng khi đó các doanh nghiệp đều phải đua nhau để phục vụ khách hàng tốt nhất thì điều đó có nghĩa là không có giá trị gia tăng nào có thể giữ nguyên và tồn tại vĩnh viễn mà có sự biến đổi mới lạ. Như vậy, “cạnh tranh của công ty chứng khoán là sự ganh đua về kinh tế giữa những doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán trong việc giành lấy thị phần nhằm mục đích cuối cùng là gia tăng lợi nhuận. Cạnh tranh là một quá trình diễn ra liên tục nhằm mang đến một chất lượng phục vụ tốt nhất cho khách hàng và nâng cao thương hiệu của đơn vị. Nguồn lực cạnh tranh của công ty chứng khoán Ngành kinh doanh chứng khoán có những tính chất đặc thù riêng biệt, nó tuân thủ theo những tính đặc thù của ngành kinh doanh tài chính.
Những ngành kinh doanh chứng khoán có những nét đặc thù rất riêng, đó là của các tổ chức kinh doanh chứng khoán. Do vậy ngoài các thực lực chung mà mỗi doanh nghiệp cần có thì nguồn lực cạnh tranh của công ty chứng khoán mang những nét đặc thù riêng biệt thể hiện qua một số những nguồn lực sau: - Tiềm lực tài chính vững mạnh thể hiện thực lực và cũng là lợi thế cạnh tranh quan trọng đối với CTCK nói riêng và tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tài chính nói chung. Với tiềm lực tài chính mạnh CTCK sẽ có khả năng đầu tư mở rộng, nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của mình để thu hút khách hàng. - Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán là nhân tố mang tính chất quyết định tới năng lực cạnh tranh của CTCK.
Là đối tượng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, thái độ phục vụ và trình độ của nhân viên sẽ là nhân tố tạo ra chất lượng cho dịch vụ tài chính, dịch vụ của CTCK. Do vậy tài sản quý giá 12 nhất của CTCK chính là đội ngũ cán bộ nhân viên chuyên nghiệp, có năng lực và đạo đức kinh doanh. - Năng lực quản trị cao cấp, có tầm nhìn chiến lược của đội ngũ lãnh đạo cũng là một yếu tố quyết định tạo nên năng lực cạnh tranh của công ty. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo có năng lực sẽ hướng công ty đi theo những hướng phù hợp với sự phát triển của thị trường.
Do vậy, đội ngũ lãnh đạo phải là người thực sự có tầm nhìn và năng lực quản lý để đưa ra những quyết định sáng suốt, kịp thời trên thị trường đầy sóng gió như thị trường chứng khoán.