CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1 Tổng quan về cạnh tranh năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Các nhà nghiên cứu từ nước ngoài đến trong nước có rất nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh mà khi tiếp cận với các khái niệm này chúng ta nhận thấy rằng chúng đều phù hợp với một hoặc nhiều khía cạnh nào đó của cạnh tranh. Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch (Các Mác, 2004), nghĩa là sự tồn tại của các đối thủ cạnh tranh là mối đe dọa tới lợi nhuận của các nhà kinh doanh. Từ đó dẫn tới việc hình thành các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh với mục đích triệt hạ các đối thủ cạnh tranh giành lấy thị trường, khách hàng và lợi nhuận. Khái niệm cạnh tranh này được nhìn dưới góc độ khá tiêu cực, cạnh tranh không bình đẳng, nếu một bên có lợi thì bên kia chịu thiệt.
Tuy nhiên nó cũng nói lên vai trò của cạnh tranh là đổi mới sản xuất, phát triển kinh tế thông qua nỗ lực cạnh tranh của các nhà tư bản. Porter thì: ‘‘Cạnh tranh giữa những đối thủ hiện tại cũng giống như là ganh đua vị trí, sử dụng những chiến thuật như cạnh tranh về giá, chiến lược quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và tăng cường dịch vụ khách hàng hoặc bảo hành’’.TS Tôn Thất Nguyễn Thiêm thì cho rằng: ‘‘Cạnh tranh trong thương trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là đem lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải lựa chọn các đối thủ cạnh tranh của mình’’. Theo nghiên cứu trong Luận án tiến sĩ năm 2005 của TS.Lê Đình Hạc: ‘‘Cạnh tranh đó là sự ganh đua giữa cá nhân, tập thể có chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành được phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn mục tiêu của mình. Các mục tiêu này trong kinh doanh có thể là: thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, độ an toàn, danh tiếng… ’’.
Hay ‘‘Đứng trên góc độ người bán thì Cạnh tranh có thể hiểu là quá trình một công ty tìm mọi cách để chiếm lĩnh thị phần cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng – Đứng trên góc độ người mua thì Cạnh tranh là quá trình một công ty tìm cách để giành nguồn nguyên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 liệu với giá rẻ và điều kiện cung cấp thuận lợi. Nói cách khác, Cạnh tranh đó là sự tranh mua, giành bán giữa những người cùng mua hoặc cùng bán một loại sản phẩm hay sản phẩm tương tự trên cùng một thị trường’’. Như vậy, cạnh tranh có tác động thúc đẩy sản xuất, là động lực để tăng trưởng kinh tế. Trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, buộc các doanh nghiệp phải thực hiện tốt lợi ích của mình và lợi ích của khách hàng, lợi ích của cộng đồng, lợi ích của xã hội, chính vì vậy, nền kinh tế không ngừng được đổi mới, phát triển, nâng cao mức sống cho người dân.
Mỗi tác giả có một khái niệm khác nhau về cạnh tranh nhưng các khái niệm này đều tựu trung một ý tưởng: Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh cùng một loại sản phẩm hàng hóa và cùng tiêu thụ trên một thị trường để đạt được mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận. Lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trên các tài liệu, trong giới nghiên cứu cũng như kinh doanh. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một khái niệm chính thống về lợi thế cạnh tranh. Thông thường, lợi thế cạnh tranh là sở hữu của những giá trị đặc thù, cho phép có thể ‘‘nắm bắt cơ hội’’ kinh doanh để mang lại lợi nhuận.
Vì vậy, khi nói đến lợi thế cạnh tranh là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp, một quốc gia đang có và có thể có so với các đối thủ cạnh tranh. Theo tác giả Nguyễn Hữu Lam thì lợi thế cạnh tranh là những năng lực phân biệt của công ty, trong đó những năng lực phân biệt này được khách hàng xem trọng, đánh giá cao vì nó tạo ra giá trị cao cho khách hàng (Nguyễn Hữu Lam và cộng sự, 2011). Vì vậy, lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp là những gì làm cho doanh nghiệp ấy khác biệt và chiếm ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh. Đó là những thế mạnh mà doanh nghiệp có hay khai thác tốt hơn đối thủ cạnh tranh.
Việc tạo dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh đóng một vai trò rất lớn trong sự thành công của doanh nghiệp. Lợi thế cạnh tranh xuất phát chủ yếu từ giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng, lợi thế đó có thể ở dưới dạng giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh (trong khi lợi ích cho người mua là tương đương) hoặc cung cấp những lợi ích vượt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 trội so với đối thủ khiến người mua chấp nhận thanh toán một mức giá cao hơn (Michael E. Để tồn tại trong môi trường cạnh tranh, công ty phải tạo ra được lợi thế cạnh tranh. Porter, tựu trung lại có 2 loại lợi thế cạnh tranh mà doanh nghiệp có thể sở hữu: chi phí thấp hoặc khác biệt hóa.
- Chi phí thấp: tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh, giúp chiếm lĩnh thị trường rộng, mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả cao hơn và có khả năng chống lại việc giảm giá bán sản phẩm tốt hơn. - Khác biệt hóa: sản phẩm có sự khác biệt, làm tăng giá trị cho người tiêu dùng, hoặc làm giảm chi phí sử dụng sản phẩm, hoặc nâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm. Lợi thế này giúp doanh nghiệp có khả năng buộc thị trường chấp nhận mức giá cao hơn mức giá của đối thủ. Khi doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ có cái mà các đối thủ khác không có, nghĩa là hoạt động tốt hơn đối thủ, hoặc làm được những việc mà đối thủ không thể làm được.
Lợi thế cạnh tranh là nhân tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp.3 Khái niệm về năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ. Trong luận văn này sẽ chủ yếu đề cập đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Cho đến nay cũng có nhiều khái niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh. Theo lý thuyết thương mại truyền thống thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được xem xét qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất.
Hiệu quả của các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh được đánh giá dựa trên mức chi phí thấp. Chi phí sản xuất thấp không chỉ là điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh mà còn đóng góp tích cực cho nền kinh tế. Theo quan điểm tổng hợp của Van Duren, Martin và Westgren thì năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước, các chỉ số đánh giá năng suất lao động, công nghệ, tổng năng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 suất các yếu tố sản xuất, chi phí cho nghiên cứu và phát triển, chất lượng và tính khác biệt của sản phẩm, chi phí đầu vào,… Năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh (Michael E. Porter cho rằng năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận.
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 2002) định nghĩa năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động, là sức sản xuất cao trên cơ sở sử dụng hiệu quả yếu tố sản xuất để phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp (Vũ Trọng Lâm, 2006). Quan niệm này khá phổ biến tại các doanh nghiệp hiện nay, năng lực cạnh tranh theo đó được diễn giải là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ và khả năng thu lợi nhuận của các doanh nghiệp so với đối thủ. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững (Nguyễn Hữu Thắng, 2008).
Đối với NHTM thì do các sản phẩm của Ngân hàng mang tính đặc thù (kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt là tiền tệ) nên năng lực cạnh tranh cũng mang tính đặc thù. Tuy nhiên, NHTM cũng là một doanh nghiệp, cũng phải xem xét đến khả năng tối đa hóa lợi nhuận. Do đó theo PGS.TS Nguyễn Thị Quy thì: “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”. Năng lực cạnh tranh được phân biệt thành 4 cấp độ như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa: là khả năng sản phẩm đó bán được nhanh với giá tốt khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên thị trường.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, tốc độ cung cấp, dịch vụ đi kèm, thương hiệu, quảng cáo, uy tín của người bán, chính sách hậu mãi,… - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có năng suất và chất lượng sản phẩm cao hơn của đối thủ, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập và lợi nhuận cao để tồn tại và phát triển bền vững.