Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Lựa chọn, sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhằm rèn kĩ năng giải toán hóa trung học phổ thông. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Cơ sở lí luận về trắc nghiệm 1. Khái niệm về trắc nghiệm TNKQ đã có lịch sử phát triển gần một thế kỉ ở các nước phát triển trên thế giới. Hiện nay TNKQ đã được đưa vào sử dụng trong kì thi tuyển sinh đại học ở nước ta ở một số bộ môn : Vật lý; Hóa học; Sinh học và Ngoại ngữ. Vậy TN là gì ? Theo nghĩa chữ Hán “trắc” là đo, “nghiệm” là suy xét, xác nhận.
Dương Thiệu Tống : "Một dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời câu hỏi : thành tích của các cá nhân như thế nào khi so sánh với những người khác hay so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ dự kiến". Trần Bá Hoành: "Test có thể tạm dịch là phương pháp TN, là hình thức đặc biệt để thăm dò một số đặc điểm về năng lực, trí tuệ của HS (thông minh, trí nhớ, tưởng tượng, chú ý) hoặc để kiểm tra một số kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của HS thuộc một chương trình nhất định. Tới nay, người ta hiểu TN là một bài tập nhỏ hoặc câu hỏi có kèm theo câu trả lời sẵn yêu cầu HS suy nghĩ rồi dùng một kí hiệu đơn giản đã qui ước để trả lời. TNKQ là phương pháp KT - ĐG kết quả học tập của HS bằng hệ thống câu TNKQ.
TN được gọi là khách quan vì cách cho điểm là khách quan chứ không chủ quan như bài TNTL. Có thể coi kết quả chấm điểm là như nhau không phụ thuộc vào người chấm bài trắc nghiệm đó. Chức năng của trắc nghiệm Nhiều tác giả đề cập tới chức năng của TNKQ, chúng tôi chỉ tập trung tới chức năng của TNKQ đối với dạy học. Với người dạy, sử dụng TNKQ nhằm cung cấp thông tin ngược chiều để điều chỉnh phương pháp nội dung cho phù hợp, nắm bắt được trình độ người học và quyết định nên bắt đầu từ đâu, tìm ra khó khăn để giúp đỡ người 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học, tổng kết để thấy đạt mục tiêu chưa, có nên cải tiến phương pháp hay không và cải tiến theo hướng nào, TNKQ nâng cao được hiệu quả giảng dạy.
Với người học, sử dụng TNKQ có thể tăng cường tinh thần trách nhiệm trong học tập, học tập trở nên nghiêm túc. Sử dụng TNKQ giúp người học tự kiểm tra đánh giá kiến thức kĩ năng, phát hiện năng lực tiềm ẩn của mình (bằng hệ thống TNKQ trên máy tính, nhiều chương trình tự kiểm tra và động viên khuyến khích người sử dụng tự phát hiện khả năng của họ về một lĩnh vực nào đó). Sử dụng TNKQ giúp cho quá trình tự học có hiệu quả hơn. Mặt khác, sử dụng TNKQ giúp người học phát hiện năng lực tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các tình huống nảy sinh trong thực tiễn.
Phân loại câu hỏi trắc nghiệm Trắc nghiệm được phân loại theo sơ đồ sau : CÁC KIỂU TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TỰ LUẬN Câu Câu Câu Câu Trả Tự Bài điền đúng ghép nhiều lời trả toán khuyết sai đôi lựa một lời chọn câu 1. Trắc nghiệm tự luận * Khái niệm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com TNTL là phương pháp đánh giá kết quả học tập bằng việc sử dụng công cụ đo lường là câu hỏi, học sinh trả lời dưới dạng bài viết bằng ngôn ngữ chuyên môn của chính mình trong một khoảng thời gian đã định trước. TNTL cho phép học sinh sự tự do tương đối nào đó để viết ra câu trả lời tương ứng với mỗi câu hỏi hay một phần của câu hỏi trong bài kiểm tra nhưng đồng thời đòi hỏi học sinh phải nhớ lại kiến thức, phải biết sắp xếp và diễn đạt ý kiến của mình một cách chính xác và rõ ràng. Bài TNTL trong một chừng mực nào đó được chấm điểm một cách chủ quan và điểm cho bởi những người chấm khác nhau có thể không thống nhất.
Một bài tự luận thường ít câu hỏi vì phải mất nhiều thời gian để viết câu trả lời < 11 >, < 16 >. * Ưu nhược điểm của trắc nghiệm tự luận. - Ưu điểm: + Câu hỏi TNTL đòi hỏi học sinh phải tự trả lời và diễn đạt bằng ngôn ngữ của chính mình, nên nó có thể đo được nhiều mức độ tư duy, đặc biệt là có khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh. Nó không những kiểm tra được độ chính xác của kiến thức mà học sinh nắm được, mà còn kiểm tra được kĩ năng, kĩ xảo giải bài tập định tính cũng như định lượng của học sinh.
+ Có thể kiểm tra đánh giá các mục tiêu liên quan đến thái độ, sự hiểu biết những ý niệm, sở thích và tài diễn đạt các tư tưởng. Hình thành cho học sinh thói quen sắp đặt ý tưởng, suy diễn, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp. phát huy tính độc lập tư duy sáng tạo. + Việc chuẩn bị câu hỏi dễ ít tốn thời gian so với câu hỏi TNKQ.
- Nhược điểm : + TNTL số lượng câu hỏi ít từ 1 đến 10 câu tùy thuộc vào thời gian. Dạng câu hỏi thiếu tính chất tiêu biểu, giá trị nội dung không cao, việc chấm điểm gặp khó khăn, tính khách quan không cao nên độ tin cậy thấp. + Cũng do phụ thuộc vào tính chủ quan của người chấm nên nhiều khi cùng một bài kiểm tra, cũng một người chấm nhưng ở hai thời điểm khác 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhau hoặc cùng một bài kiểm tra nhưng do hai người khác nhau chấm thì kết quả chấm cũng có sự khác nhau do đó phương pháp này có độ giá trị thấp. + Vì số lượng câu hỏi ít nên không thể kiểm tra hết nội dung trong chương trình học, các mục tiêu làm cho học sinh có chiều hướng học lệch, học tủ và có tư tưởng quay cóp trong lúc kiểm tra < 7 >, < 10 >, < 13 >.
Trắc nghiệm khách quan. * Khái niệm : TNKQ là phương pháp KT-ĐG kết quả học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan. Trắc nghiệm được gọi là khách quan vì cách cho điểm là khách quan chứ không chủ quan như TNTL. Có thể coi kết quả chấm điểm là như nhau không phụ thuộc vào người chấm bài trắc nghiệm đó < 19 >.
* Ưu, nhược điểm của TNKQ. - Ưu điểm: + Trong một thời gian ngắn kiểm tra được nhiều kiến thức cụ thể, đi vào những khía cạnh khác nhau của kiến thức. + Nội dung kiến thức kiểm tra rộng có tác dụng chống lại khuynh hướng học tủ, học lệch. + Số lượng câu hỏi nhiều, đủ cơ sở tin cậy, đủ cơ sở đánh giá chính xác trình độ học của học sinh thông qua kiểm tra.
+ Tuy việc biên soạn câu hỏi tốn thời gian, song việc chấm bài nhanh chóng, chính xác. Ngoài ra có thể sử dụng các phương tiện kĩ thuật để chấm bài một cách rất nhanh chóng và chính xác. + Gây hứng thú và tích cực học tập cho học sinh. + Giúp học sinh phát triển kĩ năng nhận biệt, hiểu, ứng dụng và phân tích.
+ Với phạm vi bao quát rộng của bài kiểm tra, học sinh không thể chuẩn bị tài liệu để quay cóp. Việc áp dụng công nghệ mới vào việc ssoạn thảo các đề thi cũng hạn chế đến mức thấp nhất hiện tượng nhìn bài hay trao đổi bài. -Nhược điểm: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Phương pháp TNKQ hạn chế việc đánh giá năng lực diễn đạt viết hoặc nói, năng lực sáng tạo, khả năng lập luận, không luyện tập cho học sinh cách hành văn, cách trình bày, không đánh giá được tư tưởng, nhiệt tình thái độ của học sinh. +Có yếu tố ngẫu nhiên, may rủi.
+ Việc soạn câu hỏi đòi hỏi nhiều thời gian và công sức + Tốn kém trong việc soạn thảo, in ấn đề kiểm tra và học sinh cũng mất nhiều thời gian để đọc câu hỏi. - Các lọai câu hỏi TNKQ và ưu nhược điểm của chúng. * Loại đúng - sai hoặc có - không. Lọai này được trình bày dưới dạng một câu phát biểu và thí sinh phải trả lời bằng cách lựa chọn đúng ( Đ ) hoặc sai ( S ).
Hoặc chúng có thể là những câu hỏi trực tiếp để được trả lời là có hay không. Loại câu này rất thông dụng vì loại câu này thích hợp với các kiến thức sự kiện, có thể kiểm tra kiến thức trong một thời gian ngắn. Giáo viên có thể soạn đề thi trong một thời gian ngắn. Khuyết điểm của loại này là khó có thể xác định điểm yếu của học sinh do yếu tố đoán mò xác suất 50%, có độ tin cậy thấp, đề ra thường có khuynh hướng trích nguyên văn giáo khoa nên khuyến khích thói quen học thuộc lòng hơn là tìm tòi suy nghĩ.
*Loại trắc nghiệm ghép đôi: Là những câu hỏi có hai dãy thông tin, một bên là các câu hỏi và bên kia là câu trả lời. Số câu ghép đôi càng nhiều thì xác suất may rủi càng thấp, do đó càng tăng phần ghép so với phần được ghép thì chất lượng trắc nghiệm càng được nâng cao. Loại này thích hợp với câu hỏi sự kiện khả năng nhận biết kiến thức hay những mối tương quan không thích hợp cho việc áp dụng các kiến thức mang tính nguyên lý, quy luật và mức đo các khả năng trí thức nâng cao. *Loại trắc nghiệm điền khuyết: 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có hai dạng.
Chúng có thể là những câu hỏi với giải đáp ngắn hay là những câu phát biểu với một hay nhiều chỗ để trống thí sinh phải điền vào một từ hay một nhóm từ cần thiết. Lợi thế của nó là làm mất khả năng đoán mò của học sinh. Họ có cơ hội trình bình những câu trả lời khác thường phát huy óc sáng tạo, giáo viên dễ soạn câu hỏi thích hợp với các môn tự nhiên, có thể đánh giá mức hiểu biết về nguyên lý, giải thích các sự kiện, diễn đạt ý kiến và thái độ của mình đối với vấn đề đặt ra. Tuy nhiên khuyết điểm chính của loại trắc nghiệm này là việc chấm bài mất nhiều thời gian và giáo viên thườnfg không đánh giá cao các câu trả lời sáng tạo tuy khác đáp án mà vẫn có lý.
*Lọai trắc nghiệm nhiều lựa chọn: Đây là loại câu trắc nghiệm có ưu điểm hơn cả và được dùng thông dụng nhất.