CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG, THỊ TRƯỜNG XKLĐ VÀ KHẢ NĂNG XKLĐ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP 1.1 Lao động: Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với lợi ích của mình. Thực chất lao động là sự vận dụng sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, là quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người. Có thể nói, lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế.2 Xuất khẩu lao động (Export of Labour): Xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một hiện tượng kinh tế - xã hội, được chính thức xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX. Trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, ngày nay XKLĐ trở nên rất phổ biến và đã trở thành xu thế chung của thế giới.
Đến nay, trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm chuẩn nào về XKLĐ. Vì vậy, chúng ta có thể hiểu khái niệm về XKLĐ như sau: 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Theo Điều 1 của Nghị định số 152/1999/NĐ-CP (Ban hành ngày 20/09/1999): “. Xuất khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.
Cùng với biện pháp giải quyết việc làm trong nước là chính, XKLĐ và chuyên gia là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nuớc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá. Theo quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO - International Labour Organization): Hoạt động XKLĐ là kết quả của sự mất cân đối giữa nước tiếp nhận và nước gửi lao động, thường là sự mất cân đối về kinh tế, về khả năng cung cầu lao động, về sự phân bố tài nguyên - địa lý không đồng đều và sự phụ thuộc vào các chính sách quốc gia. Các yếu tố này tạo nên sự di chuyển hay tuyển lao động từ nước này sang nước khác để bù đắp sự thiếu hụt hoặc dư thừa lao động giữa các nước và khu vực khác nhau. Theo các quan điểm khác: XKLĐ là sự làm thuê có sự trả công cho các tổ chức, cá nhân bên nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động.
Tuy nhiên sự làm thuê này là có thời hạn, sau khi thời hạn hợp đồng kết thúc, người lao động lại trở lại nước mình. Trong thời hạn lao động tại nước ngoài, họ vẫn có đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của nước tiếp nhận. Theo nghĩa rộng, việc các nước đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài là tham gia vào quá trình di dân quốc tế và nó phải tuân theo hoặc là hiệp định giữa hai quốc gia, hoặc là phải tuân theo Công ước quốc tế hoặc Thông lệ quốc tế, tuỳ theo từng trường hợp khác nhau mà nó nằm ở trong giới hạn nào. Từ năm 1980, ở nước ta đã xuất hiện thuật ngữ “hợp tác quốc tế về lao động” được hiểu là sự trao đổi lao động giữa các quốc gia trên cơ sở các hiệp định đã được thoả thuận và ký kết giữa các quốc gia.
Đó là sự di chuyển lao động có thời hạn giữa các quốc gia một cách hợp pháp và có tổ chức. Nước đưa lao động đi được coi là nước XKLĐ, còn nước tiếp nhận lao động và sử dụng lao động được coi là nước nhập khẩu lao động. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com XKLĐ cũng có một cách hiểu khác: Đó là sự hợp tác sử dụng lao động giữa nước thừa lao động và nước thiếu lao động, là việc di chuyển lao động có thời hạn và có kế hoạch từ nước dư thừa lao động sang nước thiếu lao động. Từ các khái niệm trên có thể hiểu: Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất pháp quy được thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động.
Các nước trên thế giới, kể cả nước phát triển lẫn nước kém phát triển đều tham gia vào hoạt động XKLĐ. Các nước phát triển XKLĐ có trình độ, kỹ thuật cao. Các nước kém phát triển XKLĐ dư thừa, trình độ tay nghề thấp nhằm giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện sống cho gia đình người lao động. Có thể nói XKLĐ đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.3 Thị trường xuất khẩu lao động: Thị trường XKLĐ là một bộ phận cấu thành của hệ thống thị trường thế giới, trong đó lao động của một quốc gia có thể di chuyển từ nước này sang nước khác thông qua các hiệp định, các thoả thuận giữa hai hay nhiều quốc gia trên thế giới.2 Đặc điểm của xuất khẩu lao động: * Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế: Ở nhiều nước trên thế giới, XKLĐ là một trong những giải pháp quan trọng tạo việc làm cho lực lượng lao động đang tăng lên của nước họ, đồng thời thu ngoại tệ bằng hình thức chuyển tiền về nước của người lao động.
Những lợi ích này đã buộc các nước xuất khẩu phải chiếm lĩnh ở mức cao nhất thị trường lao động ở nước ngoài. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới, từ năm 2001 đến 2005, thu nhập do lao động xuất khẩu của các nước đang phát triển ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương đã gia tăng gấp đôi và lên tới hơn 43 tỷ USD. Tại khu vực Nam Á, con số này là 32 tỷ USD, tăng 67% so với những năm trước đó. Còn nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cũng cho thấy, khoản thu nhập từ lao động xuất khẩu của các nước Philippines, Indonesia, Malaysia… hàng năm rất lớn.
Lao động các nước này đã gửi về hơn 30% thu nhập mà họ nhận được. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cụ thể, Philippines có hơn 8 triệu lao động làm việc ở nước ngoài vào năm 2006, đã gửi về nước 11,8 tỷ USD kiều hối qua các kênh chuyển tiền chính thức. Ước tính, tổng số kiều hối do lao động nước này gửi về qua các kênh khoảng từ 14 tỷ đến 21 tỷ USD, lớn hơn cả số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và viện trợ quốc tế vào Philippines. Dự kiến trong năm 2010, con số này sẽ tăng lên 21,4 tỷ USD.
(1) Theo thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước, hiện Việt Nam có trên 400.000 người đang làm việc ở trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Ngoài giải quyết tình trạng thất nghiệp, xoá đói giảm nghèo, hàng năm số lao động trên gửi về nước một khoản tiền không nhỏ, khoảng 1,7 tỷ USD. Tuy nhiên, việc chiếm lĩnh được hay không lại dựa trên quan hệ cung - cầu sức lao động, tức là nó chịu sự điều tiết, tác động của các quy luật của nền kinh tế thị trường. Bên cung phải tính toán mọi hoạt động của mình làm sao để bù đắp được chi phí và có phần lãi.
Vì vậy, mỗi quốc gia cần phải có cơ chế thích hợp để tăng khả năng tối đa về cung lao động. Bên cầu cũng phải tính toán kỹ lưỡng hiệu quả của việc nhập khẩu lao động. * Xuất khẩu lao động là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội: Thực chất, XKLĐ không tách rời khỏi người lao động, do vậy mọi chính sách pháp luật trong lĩnh vực XKLĐ phải kết hợp với các chính sách xã hội như đảm bảo để người lao động ở nước ngoài được lao động như cam kết trong hợp đồng, cũng như đảm bảo các hoạt động công đoàn. * Xuất khẩu lao động là sự kết hợp hài hoà giữa sự quản lý vĩ mô của Nhà nước và sự chủ động, tự chịu trách nhiệm của tổ chức xuất khẩu lao động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài: XKLĐ thực hiện trên cơ sở hiệp định, thoả thuận nguyên tắc của các Chính phủ và trên cơ sở của hợp đồng cung ứng lao động.
Nếu như trước đây (giai đoạn 1980 - 1990), Việt Nam tham gia vào thị trường lao động quốc tế đã XKLĐ của mình qua các hiệp định song phương, trong đó quy định khá chi tiết về điều kiện lương, ăn ở, đi lại, bảo vệ người lao động ở nước ngoài. Nghĩa là, về cơ bản Nhà nước vừa thực hiện quản lý Nhà nước về hợp tác lao động, vừa quản lý sự nghiệp hợp tác lao động với nước ngoài, Nhà nước làm 1 Nguồn: vnmedia.vn, “Xuất khẩu lao động không chỉ giải quyết việc làm”, 16/06/008. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thay cho các tổ chức kinh tế cụ thể. Hiện nay, trong cơ chế của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế thì hầu như toàn bộ hoạt động XKLĐ đều do các tổ chức XKLĐ thực hiện trên cơ sở hợp đồng đã ký.
Đồng thời, các tổ chức XKLĐ cũng chịu trách nhiệm tổ chức đưa đi và quản lý người lao động, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh tế trong hoạt động XKLĐ. Như vậy, các hiệp định và các thỏa thuận song phương chỉ có tính nguyên tắc, thể hiện vai trò và trách nhiệm Nhà nước ở tầm vĩ mô. * Xuất khẩu lao động diễn ra trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt: Tính gay gắt trong cạnh tranh của XKLĐ xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu: Một là, XKLĐ mang lại lợi ích kinh tế khá lớn cho các nước đang có khó khăn về giải quyết việc làm. Do vậy, đã buộc các nước XKLĐ phải cố gắng tối đa để chiếm lĩnh thị trường ngoài nước.
Nghĩa là, họ phải đầu tư nhiều cho chương trình marketing, chương trình đào tạo, tập huấn nhằm tăng giá trị sử dụng của sức lao động. Hai là, XKLĐ đang diễn ra trong môi trường suy giảm kinh tế trong khu vực cũng như trên thế giới. Nhiều nước trước đây thu nhận nhiều lao động nước ngoài như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và một số thị trường các nước Châu Phi…cũng đang phải đối đầu với tỷ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng. Như vậy, các chính sách và pháp luật của Nhà nước cần phải lường trước được tính chất gay gắt trong cạnh tranh XKLĐ để có chương trình dài hạn cho marketing, đào tạo nguồn lao động chất lượng cao để xuất khẩu.