Luận văn về nâng cao khả năng xuất khẩu lao động của Việt Nam trên thị trường châu Á

Tài liệu nghiên cứu Luận văn học viện tài chính nâng cao khả năng xuất khẩu lao động của việt nam trên thị trường châu, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Dân lập Đông Đô

Chuyên ngành

Quan hệ quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2010

74
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG, THỊ TRƯỜNG XKLĐ VÀ KHẢ NĂNG XKLĐ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

1.1. Xuất khẩu lao động

1.2. Thị trường xuất khẩu lao động

1.3. Đặc điểm của xuất khẩu lao động

1.4. Sự cần thiết và vai trò của XKLĐ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

1.4.1. Sự cần thiết phải xuất khẩu lao động

1.4.2. Vai trò của XKLĐ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

1.5. Các yếu tố tác động đến khả năng xuất khẩu lao động

1.6. Kinh nghiệm xây dựng khả năng XKLĐ ở một số nước trên thế giới

1.6.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia Châu Á về cải thiện chất lượng lao động xuất khẩu

1.6.2. Những bài học kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM TẠI KHU VỰC CHÂU Á TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

2.1. Hội nhập kinh tế quốc tế và những tác động đến XKLĐ của Việt Nam

2.2. Thực trạng XKLĐ của Việt Nam tại khu vực Châu Á trong thời kỳ hội nhập

2.2.1. Khái quát về thị trường lao động Châu Á

2.2.2. Các giai đoạn phát triển của hoạt động XKLĐ của Việt Nam

2.2.3. Đánh giá chung về khả năng XKLĐ của Việt Nam tại thị trường Châu Á trong thời kỳ hội nhập

2.2.4. Những kết quả đạt được

2.2.5. Nguyên nhân của tình hình trên

2.2.6. Đánh giá chung

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG CHÂU Á

3.1. Mục tiêu, phương hướng XKLĐ của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

3.2. Phương hướng xuất khẩu lao động đến năm 2020

3.3. Giải pháp nhằm nâng cao khả năng XKLĐ của Việt Nam sang thị trường Châu Á

3.3.1. Đối với cơ quan quản lý Nhà nước

3.3.2. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động

3.3.2.1. Trong công tác quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động
3.3.2.2. Với bản thân doanh nghiệp

3.3.3. Đối với người lao động

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về khả năng xuất khẩu lao động Việt Nam tại thị trường châu Á

Xuất khẩu lao động Việt Nam đã trở thành một phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế. Thị trường lao động châu Á đang mở ra nhiều cơ hội cho người lao động Việt Nam. Tuy nhiên, để tận dụng được những cơ hội này, cần có những chính sách và giải pháp phù hợp nhằm nâng cao khả năng xuất khẩu lao động.

1.1. Đặc điểm thị trường lao động châu Á

Thị trường lao động châu Á có sự đa dạng về nhu cầu và yêu cầu kỹ năng. Các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan đang cần nguồn lao động chất lượng cao, điều này tạo ra cơ hội lớn cho lao động Việt Nam.

1.2. Xu hướng xuất khẩu lao động hiện nay

Xu hướng xuất khẩu lao động đang chuyển dịch mạnh mẽ sang các thị trường mới nổi tại châu Á. Điều này đòi hỏi người lao động Việt Nam phải nâng cao kỹ năng và trình độ để đáp ứng yêu cầu của các nhà tuyển dụng.

II. Thách thức trong việc nâng cao khả năng xuất khẩu lao động Việt Nam

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao khả năng xuất khẩu lao động. Các vấn đề như chất lượng đào tạo, chính sách hỗ trợ và sự cạnh tranh từ các quốc gia khác là những yếu tố cần được giải quyết.

2.1. Chất lượng đào tạo nghề cho lao động

Chất lượng đào tạo nghề hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động quốc tế. Cần có những chương trình đào tạo phù hợp và hiệu quả hơn để nâng cao kỹ năng cho người lao động.

2.2. Chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động

Chính sách hiện tại chưa đủ mạnh để hỗ trợ người lao động trong việc tìm kiếm việc làm ở nước ngoài. Cần có những biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình này.

III. Phương pháp nâng cao khả năng xuất khẩu lao động Việt Nam

Để nâng cao khả năng xuất khẩu lao động, Việt Nam cần áp dụng một số phương pháp hiệu quả. Các giải pháp này bao gồm cải thiện chất lượng đào tạo, tăng cường hợp tác quốc tế và phát triển các chương trình hỗ trợ người lao động.

3.1. Cải thiện chất lượng đào tạo nghề

Cần thiết lập các chương trình đào tạo nghề chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động quốc tế. Việc này sẽ giúp người lao động có đủ kỹ năng để cạnh tranh.

3.2. Tăng cường hợp tác quốc tế

Việt Nam cần mở rộng hợp tác với các quốc gia có nhu cầu lao động cao. Điều này không chỉ giúp tăng cường cơ hội việc làm mà còn nâng cao uy tín của lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về xuất khẩu lao động

Nghiên cứu cho thấy rằng việc nâng cao khả năng xuất khẩu lao động không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho người lao động mà còn cho cả đất nước. Các kết quả từ các chương trình đào tạo và hợp tác quốc tế đã chứng minh hiệu quả rõ rệt.

4.1. Kết quả từ các chương trình đào tạo

Các chương trình đào tạo nghề đã giúp hàng triệu lao động Việt Nam có việc làm ổn định tại nước ngoài, từ đó cải thiện đời sống cho nhiều gia đình.

4.2. Tác động của xuất khẩu lao động đến kinh tế

Xuất khẩu lao động đã đóng góp một phần lớn vào ngân sách quốc gia thông qua kiều hối, giúp cải thiện tình hình kinh tế xã hội tại nhiều địa phương.

V. Kết luận và tương lai của xuất khẩu lao động Việt Nam

Tương lai của xuất khẩu lao động Việt Nam tại thị trường châu Á phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm chính sách, chất lượng lao động và sự cạnh tranh từ các quốc gia khác. Cần có những chiến lược dài hạn để phát triển bền vững lĩnh vực này.

5.1. Chiến lược phát triển xuất khẩu lao động

Cần xây dựng một chiến lược phát triển xuất khẩu lao động rõ ràng, tập trung vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và mở rộng thị trường.

5.2. Tương lai của lao động Việt Nam tại châu Á

Với sự phát triển của nền kinh tế châu Á, cơ hội cho lao động Việt Nam sẽ ngày càng tăng. Tuy nhiên, cần phải chuẩn bị tốt để đáp ứng yêu cầu của thị trường.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG, THỊ TRƯỜNG XKLĐ VÀ KHẢ NĂNG XKLĐ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP 1.1 Lao động: Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với lợi ích của mình. Thực chất lao động là sự vận dụng sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, là quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người. Có thể nói, lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế.2 Xuất khẩu lao động (Export of Labour): Xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một hiện tượng kinh tế - xã hội, được chính thức xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX. Trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, ngày nay XKLĐ trở nên rất phổ biến và đã trở thành xu thế chung của thế giới.

Đến nay, trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm chuẩn nào về XKLĐ. Vì vậy, chúng ta có thể hiểu khái niệm về XKLĐ như sau: 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Theo Điều 1 của Nghị định số 152/1999/NĐ-CP (Ban hành ngày 20/09/1999): “. Xuất khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.

Cùng với biện pháp giải quyết việc làm trong nước là chính, XKLĐ và chuyên gia là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nuớc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá. Theo quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO - International Labour Organization): Hoạt động XKLĐ là kết quả của sự mất cân đối giữa nước tiếp nhận và nước gửi lao động, thường là sự mất cân đối về kinh tế, về khả năng cung cầu lao động, về sự phân bố tài nguyên - địa lý không đồng đều và sự phụ thuộc vào các chính sách quốc gia. Các yếu tố này tạo nên sự di chuyển hay tuyển lao động từ nước này sang nước khác để bù đắp sự thiếu hụt hoặc dư thừa lao động giữa các nước và khu vực khác nhau. Theo các quan điểm khác: XKLĐ là sự làm thuê có sự trả công cho các tổ chức, cá nhân bên nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động.

Tuy nhiên sự làm thuê này là có thời hạn, sau khi thời hạn hợp đồng kết thúc, người lao động lại trở lại nước mình. Trong thời hạn lao động tại nước ngoài, họ vẫn có đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của nước tiếp nhận. Theo nghĩa rộng, việc các nước đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài là tham gia vào quá trình di dân quốc tế và nó phải tuân theo hoặc là hiệp định giữa hai quốc gia, hoặc là phải tuân theo Công ước quốc tế hoặc Thông lệ quốc tế, tuỳ theo từng trường hợp khác nhau mà nó nằm ở trong giới hạn nào. Từ năm 1980, ở nước ta đã xuất hiện thuật ngữ “hợp tác quốc tế về lao động” được hiểu là sự trao đổi lao động giữa các quốc gia trên cơ sở các hiệp định đã được thoả thuận và ký kết giữa các quốc gia.

Đó là sự di chuyển lao động có thời hạn giữa các quốc gia một cách hợp pháp và có tổ chức. Nước đưa lao động đi được coi là nước XKLĐ, còn nước tiếp nhận lao động và sử dụng lao động được coi là nước nhập khẩu lao động. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com XKLĐ cũng có một cách hiểu khác: Đó là sự hợp tác sử dụng lao động giữa nước thừa lao động và nước thiếu lao động, là việc di chuyển lao động có thời hạn và có kế hoạch từ nước dư thừa lao động sang nước thiếu lao động. Từ các khái niệm trên có thể hiểu: Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất pháp quy được thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động.

Các nước trên thế giới, kể cả nước phát triển lẫn nước kém phát triển đều tham gia vào hoạt động XKLĐ. Các nước phát triển XKLĐ có trình độ, kỹ thuật cao. Các nước kém phát triển XKLĐ dư thừa, trình độ tay nghề thấp nhằm giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện sống cho gia đình người lao động. Có thể nói XKLĐ đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.3 Thị trường xuất khẩu lao động: Thị trường XKLĐ là một bộ phận cấu thành của hệ thống thị trường thế giới, trong đó lao động của một quốc gia có thể di chuyển từ nước này sang nước khác thông qua các hiệp định, các thoả thuận giữa hai hay nhiều quốc gia trên thế giới.2 Đặc điểm của xuất khẩu lao động: * Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế: Ở nhiều nước trên thế giới, XKLĐ là một trong những giải pháp quan trọng tạo việc làm cho lực lượng lao động đang tăng lên của nước họ, đồng thời thu ngoại tệ bằng hình thức chuyển tiền về nước của người lao động.

Những lợi ích này đã buộc các nước xuất khẩu phải chiếm lĩnh ở mức cao nhất thị trường lao động ở nước ngoài. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới, từ năm 2001 đến 2005, thu nhập do lao động xuất khẩu của các nước đang phát triển ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương đã gia tăng gấp đôi và lên tới hơn 43 tỷ USD. Tại khu vực Nam Á, con số này là 32 tỷ USD, tăng 67% so với những năm trước đó. Còn nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cũng cho thấy, khoản thu nhập từ lao động xuất khẩu của các nước Philippines, Indonesia, Malaysia… hàng năm rất lớn.

Lao động các nước này đã gửi về hơn 30% thu nhập mà họ nhận được. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cụ thể, Philippines có hơn 8 triệu lao động làm việc ở nước ngoài vào năm 2006, đã gửi về nước 11,8 tỷ USD kiều hối qua các kênh chuyển tiền chính thức. Ước tính, tổng số kiều hối do lao động nước này gửi về qua các kênh khoảng từ 14 tỷ đến 21 tỷ USD, lớn hơn cả số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và viện trợ quốc tế vào Philippines. Dự kiến trong năm 2010, con số này sẽ tăng lên 21,4 tỷ USD.

(1) Theo thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước, hiện Việt Nam có trên 400.000 người đang làm việc ở trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Ngoài giải quyết tình trạng thất nghiệp, xoá đói giảm nghèo, hàng năm số lao động trên gửi về nước một khoản tiền không nhỏ, khoảng 1,7 tỷ USD. Tuy nhiên, việc chiếm lĩnh được hay không lại dựa trên quan hệ cung - cầu sức lao động, tức là nó chịu sự điều tiết, tác động của các quy luật của nền kinh tế thị trường. Bên cung phải tính toán mọi hoạt động của mình làm sao để bù đắp được chi phí và có phần lãi.

Vì vậy, mỗi quốc gia cần phải có cơ chế thích hợp để tăng khả năng tối đa về cung lao động. Bên cầu cũng phải tính toán kỹ lưỡng hiệu quả của việc nhập khẩu lao động. * Xuất khẩu lao động là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội: Thực chất, XKLĐ không tách rời khỏi người lao động, do vậy mọi chính sách pháp luật trong lĩnh vực XKLĐ phải kết hợp với các chính sách xã hội như đảm bảo để người lao động ở nước ngoài được lao động như cam kết trong hợp đồng, cũng như đảm bảo các hoạt động công đoàn. * Xuất khẩu lao động là sự kết hợp hài hoà giữa sự quản lý vĩ mô của Nhà nước và sự chủ động, tự chịu trách nhiệm của tổ chức xuất khẩu lao động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài: XKLĐ thực hiện trên cơ sở hiệp định, thoả thuận nguyên tắc của các Chính phủ và trên cơ sở của hợp đồng cung ứng lao động.

Nếu như trước đây (giai đoạn 1980 - 1990), Việt Nam tham gia vào thị trường lao động quốc tế đã XKLĐ của mình qua các hiệp định song phương, trong đó quy định khá chi tiết về điều kiện lương, ăn ở, đi lại, bảo vệ người lao động ở nước ngoài. Nghĩa là, về cơ bản Nhà nước vừa thực hiện quản lý Nhà nước về hợp tác lao động, vừa quản lý sự nghiệp hợp tác lao động với nước ngoài, Nhà nước làm 1 Nguồn: vnmedia.vn, “Xuất khẩu lao động không chỉ giải quyết việc làm”, 16/06/008. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thay cho các tổ chức kinh tế cụ thể. Hiện nay, trong cơ chế của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế thì hầu như toàn bộ hoạt động XKLĐ đều do các tổ chức XKLĐ thực hiện trên cơ sở hợp đồng đã ký.

Đồng thời, các tổ chức XKLĐ cũng chịu trách nhiệm tổ chức đưa đi và quản lý người lao động, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh tế trong hoạt động XKLĐ. Như vậy, các hiệp định và các thỏa thuận song phương chỉ có tính nguyên tắc, thể hiện vai trò và trách nhiệm Nhà nước ở tầm vĩ mô. * Xuất khẩu lao động diễn ra trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt: Tính gay gắt trong cạnh tranh của XKLĐ xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu: Một là, XKLĐ mang lại lợi ích kinh tế khá lớn cho các nước đang có khó khăn về giải quyết việc làm. Do vậy, đã buộc các nước XKLĐ phải cố gắng tối đa để chiếm lĩnh thị trường ngoài nước.

Nghĩa là, họ phải đầu tư nhiều cho chương trình marketing, chương trình đào tạo, tập huấn nhằm tăng giá trị sử dụng của sức lao động. Hai là, XKLĐ đang diễn ra trong môi trường suy giảm kinh tế trong khu vực cũng như trên thế giới. Nhiều nước trước đây thu nhận nhiều lao động nước ngoài như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và một số thị trường các nước Châu Phi…cũng đang phải đối đầu với tỷ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng. Như vậy, các chính sách và pháp luật của Nhà nước cần phải lường trước được tính chất gay gắt trong cạnh tranh XKLĐ để có chương trình dài hạn cho marketing, đào tạo nguồn lao động chất lượng cao để xuất khẩu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ