Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Nâng cao khả năng xuất khẩu lao động của Việt Nam trên thị trường Châu Á hiện nay" được thực hiện bởi sinh viên Bùi Thị Ngọc Dung, ngành Quan hệ quốc tế thuộc Khoa Quan hệ quốc tế, Trường Đại học Dân lập Đông Đô (Hà Nội, hoàn thành tháng 4 năm 2010), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Duy Liên.
Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế chung và nhu cầu tất yếu của các quốc gia. Tiến trình hội nhập của Việt Nam bắt đầu từ năm 1992 khi tái lập quan hệ với các định chế tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB), tiếp nối bằng việc gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995, Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) năm 1996, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm 1998, và trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007. Trong tiến trình này, xuất khẩu lao động (XKLĐ) trở thành định hướng phát triển quan trọng. Bình quân mỗi năm có hàng chục ngàn lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc; từ các thị trường truyền thống như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, mạng lưới tiếp nhận đã mở rộng đến hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế còn hạn chế do điểm nghẽn về chất lượng đào tạo, tay nghề, ngoại ngữ và kỷ luật lao động, khiến yêu cầu nâng cao khả năng XKLĐ tại khu vực trọng điểm Châu Á trở nên cấp thiết.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về sức lao động và thị trường xuất khẩu lao động trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đánh giá những thành tựu đã đạt được của lĩnh vực XKLĐ Việt Nam, đồng thời chỉ ra các tồn tại hạn chế và nguyên nhân cốt lõi.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm giải quyết các bất cập tồn đọng, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng XKLĐ của Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận về XKLĐ nhằm nhận thức toàn diện về vai trò của nguồn vốn nhân lực quốc gia.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao khả năng XKLĐ, cải thiện chất lượng nhân lực, đáp ứng mục tiêu phát huy tiềm năng lao động của đất nước.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam, tập trung vào các thị trường tiếp nhận truyền thống tại khu vực Châu Á như Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc.
- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng hoạt động XKLĐ của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, tập trung vào giai đoạn 1980 - 2009, với trọng tâm số liệu phân tích trong giai đoạn 2000 - 2009.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ góc độ kinh tế quốc tế và quan hệ kinh tế đối ngoại:
- Khái niệm và khung pháp lý: Tác giả dẫn chiếu khái niệm lao động và XKLĐ theo Điều 1 Nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20/09/1999 của Chính phủ, xác định XKLĐ và chuyên gia là hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm, tăng thu nhập và nguồn thu ngoại tệ; gắn liền với quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về sự di chuyển lao động nhằm bù đắp mất cân đối cung - cầu giữa các quốc gia; cùng định hướng từ Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 22/09/1998 của Bộ Chính trị.
- Các đặc điểm và nhân tố tác động: Khóa luận phân tích 5 đặc điểm của XKLĐ (hoạt động kinh tế; mang tính xã hội; kết hợp quản lý vĩ mô của Nhà nước với sự chủ động của doanh nghiệp; diễn ra trong môi trường cạnh tranh gay gắt; đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động; là hoạt động nhiều biến đổi) và các nhân tố chi phối như quan hệ cung - cầu toàn cầu, hệ thống pháp luật, chất lượng lao động và quan hệ ngoại giao.
- Kinh nghiệm quốc tế: Khóa luận phân tích bài học từ Philippines (cơ chế bảo hộ lao động ở nước ngoài, miễn thuế sân bay, chuyển kiều hối chính thức đạt 11,8 tỷ USD năm 2006), Thái Lan (chính sách tiền ký quỹ 1 - 5 triệu bạt cho doanh nghiệp phái cử, giới hạn phí dịch vụ không quá 1 tháng lương, đào tạo 120.000 lao động chuẩn bị mỗi năm), và Trung Quốc (chiến lược đưa du học sinh và sinh viên ra nước ngoài học tập để tiếp thu công nghệ, với 380.000 du học sinh tại 108 quốc gia năm 2002 theo thống kê của UNESCO).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp, phương pháp phân tích - tổng hợp số liệu, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp thống kê và hệ thống hóa.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thống kê chính thức từ Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), Báo cáo kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 01/04/2009 (theo Quyết định số 94/2008/QĐ-TTg ngày 10/07/2008 của Thủ tướng Chính phủ), dữ liệu từ các tổ chức quốc tế (ILO, WB, ADB, UNESCO) và các tư liệu chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về lao động, thị trường XKLĐ và khả năng XKLĐ của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Chương 1 hệ thống hóa khái niệm sức lao động, thị trường XKLĐ và tính cấp thiết của hoạt động này đối với phát triển kinh tế - xã hội. Theo số liệu Tổng điều tra dân số ngày 01/04/2009, dân số Việt Nam đạt 85,8 triệu người (đứng thứ 3 Đông Nam Á và thứ 13 thế giới), sau 10 năm tăng 9,47 triệu người với tốc độ tăng bình quân 1,2%/năm. Lực lượng trong độ tuổi lao động đạt 55 triệu người, trong đó 45,2 triệu người thuộc lực lượng lao động (chiếm 82,2%). Số lao động đang làm việc là 43,9 triệu người (thành thị chiếm 27% với gần 12 triệu người; nông thôn chiếm 73% với 31,9 triệu người). Trình độ học vấn của lực lượng lao động từ THCS trở lên đạt 56,7%, THPT trở lên đạt 27,8%, trong khi trình độ đại học trở lên chỉ chiếm 5,3% (thành thị đạt 14,4%, nông thôn 1,8%). Tỷ lệ thất nghiệp cả nước là 2,9% (tương đương 1,3 triệu người), trong đó thành thị là 4,64% và nông thôn là 2,25%.
Mâu thuẫn giữa nguồn cung lao động tăng nhanh và khả năng giải quyết việc làm nội địa đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát triển XKLĐ. Về vai trò kinh tế, năm 2006 lượng kiều hối do lao động chuyển về đạt khoảng 1,7 tỷ USD, chiếm khoảng 3,3% GDP cả nước và tương đương quy mô vốn ODA giải ngân cùng năm. Bên cạnh việc giảm áp lực thất nghiệp, XKLĐ còn hỗ trợ đào tạo tác phong công nghiệp và tay nghề. Từ bài học kinh nghiệm của Philippines, Thái Lan và Trung Quốc, tác giả rút ra 3 vấn đề cho Việt Nam: định vị vai trò kiến tạo hành lang pháp lý của Nhà nước, kết hợp hài hòa lợi ích quốc gia với quyền lợi người lao động, và giải quyết việc làm hậu xuất khẩu gắn liền với chính sách hỗ trợ người lao động tái xuất.
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam tại khu vực Châu Á trong thời kỳ hội nhập
Chương 2 đánh giá thực trạng 30 năm phát triển hoạt động XKLĐ (1980 - 2010), phân chia thành hai giai đoạn bản lề:
- Giai đoạn cơ chế kế hoạch hóa tập trung (1980 - 1990): Thực hiện thông qua các Hiệp định chính phủ ký kết với 4 nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, CHDC Đức, Tiệp Khắc, Bungari), hiệp định chuyên gia với một số nước Châu Phi và thỏa thuận ngành với Iraq, Libya. Giai đoạn này đưa được 28,8 vạn lao động ra nước ngoài (trong đó các nước xã hội chủ nghĩa tiếp nhận 26,18 vạn người), bình quân hơn 2,7 vạn người/năm. Lao động chưa qua đào tạo nghề chiếm 57% (giai đoạn 1988 - 1990 lên tới 70%). Cơ cấu ngành nghề tiếp nhận gồm: công nghiệp nhẹ 45%, xây dựng 26%, cơ khí 20% và các ngành khác 6%. Về hiệu quả kinh tế, ngân sách nhà nước thu 482 triệu rúp phi mậu dịch (tương đương 263 tỷ đồng thời giá 1990 và 9,2 triệu USD); hàng hóa người lao động gửi và mang về đạt khoảng 720 tỷ đồng cùng 300 triệu USD chuyển về, đưa tổng giá trị thu về ước đạt 1.200 tỷ đồng (thời giá 1990).
- Giai đoạn cơ chế thị trường (từ năm 1991 đến nay): Hoạt động vận hành theo quy luật cung - cầu quốc tế. Quy mô tiếp nhận mở rộng sang hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, với hơn 10 thị trường tiếp nhận trên 2.000 lao động Việt Nam mỗi năm. Giai đoạn 2003 - 2009, bình quân mỗi năm đưa gần 77.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài, mang lại lượng ngoại tệ chuyển về từ 1,7 đến 2 tỷ USD/năm.
Khóa luận tổng hợp quy mô phát triển lao động xuất khẩu qua bảng thống kê:
| Năm |
Tổng số lao động xuất khẩu (Người) |
Lao động nữ (Người) |
| 2000 |
31.500 |
9.065 |
| 2001 |
36.168 |
7.704 |
| 2002 |
46.122 |
10.556 |
| 2003 |
75.000 |
18.118 |
| 2004 |
67.447 |
37.741 |
| 2005 |
70.594 |
24.605 |
| 2006 |
78.855 |
27.023 |
| 2007 |
85.020 |
28.278 |
| 2008 |
86.990 |
28.598 |
Phân tích chuyên sâu 3 thị trường trọng điểm tại Châu Á:
- Thị trường Hàn Quốc: Tiếp nhận qua Chương trình cấp phép việc làm (EPS). Tính đến 30/06/2009, tổng số lao động Việt Nam nhập cảnh Hàn Quốc theo chương trình EPS đạt 40.228 người (không tính tái nhập cảnh). Cơ cấu theo ngành nghề gồm: sản xuất chế tạo 33.899 người (chiếm tỷ trọng áp đảo), nông nghiệp 3.038 người, xây dựng 2.950 người, và thủy sản 320 người. Có 8 doanh nghiệp Việt Nam được phép cung ứng tu nghiệp sinh sang Hàn Quốc gồm LOD, VINACONEX, OLECO, SULECO, SOVILACO, TRACODI, IMS, TRACIMEXCO.
- Thị trường Đài Loan: Tiếp nhận lao động Việt Nam từ cuối năm 1999 trong hạn ngạch khống chế 300.000 lao động nước ngoài. Trong 10 năm, Việt Nam đưa gần 200.000 lượt lao động sang Đài Loan. Tính đến hết tháng 5/2009, số lao động Việt Nam đang làm việc tại đây là 77.289 người (tăng 2.874 người so với cùng kỳ năm 2008), chiếm 22,60% tổng số lao động nước ngoài tại Đài Loan, đứng vị trí thứ 2 trong 6 quốc gia cung ứng (sau Indonesia). Cơ cấu ngành nghề: sản xuất chế tạo chiếm 57,70% (44.594 người); chăm sóc người ốm và giúp việc gia đình chiếm 41,02% (31.706 người); xây dựng chiếm 0,72% (554 người); thuyền viên chiếm 0,56% (435 người). Về địa bàn, lao động tập trung tại Đào Viên (14.683 người, 19,00%), Đài Bắc (10.840 người, 14,03%), Chương Hóa (8.143 người, 10,54%) và Đài Trung. Thu nhập bình quân đạt khoảng 500 USD/tháng với giúp việc gia đình và 650 - 700 USD/tháng với công xưởng, hộ lý; sau chi phí gửi về nước 300 - 350 USD/tháng. Toàn thị trường có 158 doanh nghiệp Việt Nam tham gia ký kết với hơn 500 công ty môi giới việc làm Đài Loan. Tồn tại lớn là hiện tượng lao động bỏ hợp đồng, dẫn tới việc chính quyền Đài Loan tạm dừng tiếp nhận lao động giúp việc gia đình từ đầu năm 2005.
- Thị trường Malaysia: Ký kết hợp tác và tiếp nhận lao động Việt Nam từ đầu năm 1992, thời hạn hợp đồng tối đa 7 năm. Đến thời điểm khảo sát có khoảng 100.000 lao động Việt Nam làm việc tại đây thông qua hơn 100 doanh nghiệp phái cử. Ngành nghề tiếp nhận tập trung vào dệt may, lắp ráp điện tử và sản xuất công nghiệp; mức thu nhập bình quân từ 2 đến 2,5 triệu đồng/tháng.
Về mặt hạn chế, công tác tuyển chọn qua nhiều trung gian đẩy chi phí lên cao; công tác đào tạo định hướng, ngoại ngữ và giáo dục kỷ luật chưa sâu; tình trạng vi phạm pháp luật và phá vỡ hợp đồng làm ảnh hưởng đến uy tín quốc gia; thủ tục cấp hộ chiếu qua nhiều cơ quan kéo dài khoảng 1 tháng; năng lực cán bộ quản lý ở nước ngoài của các doanh nghiệp còn yếu, phần lớn chỉ đảm nhiệm vai trò phiên dịch.
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Châu Á
Chương 3 đề xuất định hướng và giải pháp phát triển dựa trên chỉ tiêu vĩ mô:
- Mục tiêu giai đoạn mới: Từ năm 2010 phấn đấu tạo việc làm mới cho 1,6 triệu lao động/năm. Mục tiêu năm 2010 đưa 70.000 người đi làm việc ở nước ngoài, kiều hối trên 1,7 tỷ USD. Theo kế hoạch đầu tư 930 tỷ đồng của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, phấn đấu đến năm 2015 đưa 100.000 - 200.000 lao động/năm, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 70% (100% được giáo dục định hướng và ngoại ngữ). Chỉ tiêu đến năm 2020 đưa trên 1 triệu lao động đi làm việc ở nước ngoài theo Nghị quyết của Quốc hội.
- Nhóm giải pháp đối với cơ quan quản lý Nhà nước: Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (hoàn thiện dự thảo Luật về lĩnh vực XKLĐ); cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian thẩm tra hồ sơ và cấp hộ chiếu; tổ chức đánh giá, phân loại 164 doanh nghiệp được cấp phép, kiên quyết xử lý hoặc đình chỉ các đơn vị vi phạm; tăng cường thanh tra, kiểm tra và bảo hộ công dân thông qua mạng lưới đại sứ quán.
- Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp phái cử: Xây dựng cơ sở đào tạo nghề và ngoại ngữ chuẩn hóa; đầu tư nghiên cứu thị trường, nâng cao năng lực đàm phán hợp đồng cung ứng; gắn kết tuyển chọn lao động với chính quyền địa phương nhằm minh bạch thông tin và giảm chi phí trung gian; nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức của đội ngũ cán bộ đại diện quản lý lao động ở nước ngoài.
- Nhóm giải pháp đối với người lao động: Nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, tuân thủ pháp luật nước sở tại, nghiêm túc tích lũy kiến thức nghề nghiệp và ngoại ngữ trước khi xuất cảnh; hạn chế hiện tượng bỏ trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp; thực hành tiết kiệm để tích lũy vốn phục vụ tái lập nghiệp sau khi về nước.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận tổng hợp hệ thống số liệu cụ thể phản ánh quy mô và cơ cấu xuất khẩu lao động Việt Nam:
| Chỉ số / Thị trường |
Số liệu ghi nhận trong văn bản |
Chi tiết chuyên môn |
| Quy mô toàn cầu (2009) |
~75.000 lao động xuất khẩu |
Duy trì đưa trên 70.000 người/năm từ năm 2005 |
| Kiều hối thường niên |
1,7 đến 2,0 tỷ USD/năm |
Chiếm khoảng 3,3% GDP cả nước năm 2006 |
| Chương trình EPS Hàn Quốc |
40.228 lao động nhập cảnh |
Tính đến 30/06/2009 (Chế tạo: 33.899; Nông nghiệp: 3.038) |
| Hiện diện tại Đài Loan |
77.289 lao động |
Tính đến tháng 5/2009, chiếm 22,60% thị phần lao động ngoại |
| Cơ cấu nghề tại Đài Loan |
Chế tạo: 57,70%; Hộ lý/Giúp việc: 41,02% |
Lao động công xưởng thu nhập 650 - 700 USD/tháng |
| Hiện diện tại Malaysia |
~100.000 lao động |
Thu nhập bình quân 2,0 - 2,5 triệu đồng/tháng |
| Mạng lưới doanh nghiệp |
164 doanh nghiệp được cấp phép |
158 đơn vị cung ứng Đài Loan, 8 đơn vị tham gia EPS Hàn Quốc |
Về mặt giải pháp, nghiên cứu đưa ra khuyến nghị phân tầng: kiến nghị Nhà nước hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh ngoại giao kinh tế; kiến nghị doanh nghiệp tái cấu trúc quy trình đào tạo và quản lý; khuyến nghị người lao động chấp hành kỷ luật hợp đồng để bảo vệ thị phần quốc gia.
Về đóng góp học thuật và thực tiễn, công trình đã phân kỳ lịch sử 30 năm phát triển XKLĐ của Việt Nam (1980 - 2010), làm rõ sự chuyển dịch từ hợp tác phi thương mại sang vận hành theo cơ chế thị trường; cung cấp bức tranh chi tiết về cơ cấu phân bổ lao động theo ngành nghề và địa bàn tại 3 thị trường Châu Á lớn nhất ở giai đoạn 2005 - 2009.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Tác giả tự nhận định công trình còn những hạn chế nhất định do điều kiện thời gian, trình độ nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều.
- Dữ liệu nghiên cứu chủ yếu phản ánh giai đoạn trước năm 2010; một số bảng biểu thống kê trong nguồn tài liệu chưa được số hóa trọn vẹn do giới hạn sao lưu văn bản gốc.
- Trọng tâm khảo sát đặt tại khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia), chưa mở rộng phân tích chuyên sâu các thị trường Trung Đông, Châu Âu hay Bắc Mỹ.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Khảo sát các cơ chế giải quyết việc làm hậu XKLĐ và chính sách thúc đẩy tái xuất lao động có tay nghề.
- Nghiên cứu mô hình liên kết đào tạo nghề chuyên sâu theo đơn đặt hàng của các thị trường tiếp nhận kỹ thuật cao.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên các ngành Quan hệ quốc tế, Kinh tế đối ngoại, Quản lý lao động - tiền lương, và Xã hội học khi nghiên cứu về di cư lao động quốc tế.
- Cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao:
- Bức tranh lịch sử 10 năm đầu tiên (1980 - 1990) về hợp tác lao động với khối các nước xã hội chủ nghĩa tại Đông Âu.
- Số liệu chi tiết về phân bố lao động, thu nhập, chi phí môi giới và các rào cản pháp lý tại thị trường Đài Loan, Hàn Quốc và Malaysia giai đoạn 2005 - 2009.
Câu hỏi thường gặp
1. Trong giai đoạn 1980 - 1990, lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài tập trung vào những ngành nghề nào và hiệu quả kinh tế thu về cho ngân sách là bao nhiêu?
Trong giai đoạn 1980 - 1990, cơ cấu ngành nghề tiếp nhận lao động Việt Nam gồm: công nghiệp nhẹ chiếm 45%, xây dựng chiếm 26%, cơ khí chiếm 20%, và các ngành khác chiếm 6%. Hiệu quả kinh tế đem lại cho ngân sách nhà nước là 482 triệu rúp phi mậu dịch (tương đương 263 tỷ đồng theo thời giá 1990 và 9,2 triệu USD).
2. Tính đến ngày 30/06/2009, tổng số lao động Việt Nam sang Hàn Quốc theo chương trình EPS là bao nhiêu và phân bổ theo các ngành nghề như thế nào?
Tổng số lao động Việt Nam nhập cảnh Hàn Quốc theo chương trình EPS đạt 40.228 người (không bao gồm số tái nhập cảnh). Cơ cấu phân bổ cụ thể: ngành sản xuất chế tạo đạt 33.899 người, ngành nông nghiệp đạt 3.038 người, ngành xây dựng đạt 2.950 người, và ngành thủy sản đạt 320 người.
3. Tình hình lao động Việt Nam làm việc tại thị trường Đài Loan tính đến hết tháng 5/2009 đạt quy mô và cơ cấu ngành nghề ra sao?
Tính đến hết tháng 5/2009, có 77.289 lao động Việt Nam làm việc tại Đài Loan, chiếm 22,60% tổng số lao động nước ngoài tại đây (đứng thứ hai sau Indonesia). Cơ cấu ngành nghề gồm: sản xuất chế tạo chiếm 57,70% (44.594 người); chăm sóc người ốm và giúp việc gia đình chiếm 41,02% (31.706 người); xây dựng chiếm 0,72% (554 người); và thuyền viên chiếm 0,56% (435 người).
4. Tại sao thị trường Đài Loan tạm dừng tiếp nhận lao động Việt Nam trong lĩnh vực giúp việc gia đình từ đầu năm 2005?
Chính quyền Đài Loan tạm dừng tiếp nhận lao động Việt Nam làm công việc giúp việc gia đình từ đầu năm 2005 do tỷ lệ lao động tự ý phá vỡ hợp đồng và bỏ trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp tăng cao, gây mất ổn định trật tự quản lý lao động nước ngoài.
5. Những chỉ tiêu phát triển xuất khẩu lao động trọng điểm được nêu trong khóa luận đến năm 2015 và năm 2020 là gì?
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đặt kế hoạch đầu tư 930 tỷ đồng, phấn đấu đến năm 2015 đưa 100.000 - 200.000 người/năm đi làm việc ở nước ngoài, nâng tỷ lệ lao động có nghề lên 70%. Mục tiêu dài hạn do Quốc hội đề ra là đến năm 2020 đưa trên 1 triệu lao động đi xuất khẩu.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Ngọc Dung đã phác họa toàn diện bức tranh 30 năm hình thành và chuyển đổi của hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang vận hành theo cơ chế thị trường. Công trình khai thác nguồn dữ liệu thống kê xác thực từ Cục Quản lý lao động ngoài nước để phân tích sâu sắc các thị trường tiếp nhận trọng điểm tại Châu Á gồm Hàn Quốc, Đài Loan và Malaysia, nhận diện rõ những điểm nghẽn về chất lượng nguồn nhân lực và tính kỷ luật của người lao động. Hệ thống giải pháp được đề xuất đồng bộ giữa quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm doanh nghiệp phái cử và ý thức của người lao động, đóng góp cơ sở dữ liệu và định hướng chính sách thiết thực cho giai đoạn phát triển kinh tế đối ngoại 2010 - 2020.