Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẠNH TRANH CỦA HỆ THỐNG NHTM TRONG TIẾN TRÌNH HNKTQT 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HNKTQT. Quan niệm cơ bản về toàn cầu hoá và HNKTQT Đã từ nhiều năm trở lại đây, toàn cầu hoá đã trở thành một xu hướng phổ biến của của xã hội loài người. Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ, toàn cầu hoá đang được nhìn nhận như là một chỉnh thể của sự tương tác giữa các khía cạnh kinh tế, văn hoá, an ninh cũng như môi trường.
Có thế nói rằng cũng như sự đa dạng của đời sống xã hội loài người, toàn cầu hoá trở thành một khái niệm phổ biến, “một khái niệm nhiều mặt vì nó bao quát cả lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính trị” hay là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, sự tác động lẫn nhau của tất cả các khu vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Trong sự đa dạng, nhiều khía cạnh của toàn cầu hoá, thì toàn cầu hoá kinh tế và HNKTQT trở thành một khái niệm phổ biến của thế giới bởi tầm quan trọng và tính quyết định của sản xuất kinh tế đến tất thảy các khía cạnh khác của xã hội loài người. Từ góc độ sản xuất, toàn cầu hoá kinh tế được hiểu như là “khuynh hướng gia tăng các sản phẩm có các bộ phận cấu thành được chế tạo ở một loạt nước”22, 117 hoặc từ góc độ liên kết sản xuất và thị trường, nhiều học giả đã quan niệm: “toàn cầu hoá kinh tế là sự liên kết các yếu tố sản xuất giữa các nước với nhau dưới sự bảo trợ hoặc sở hữu của các công ty xuyên quốc gia và sự liên kết các thị trường hàng hoá và tài chính được thuận lợi bởi quá trình tự do hoá” 6, hoặc theo góc độ phát triển, chương trình phát triển liên hợp quốc UNDP quan niệm: “toàn cầu hoá bao hàm sự làm sâu sắc quá trình quá trình quốc tế hoá, tăng cường khía cạnh chức năng phát triển và làm yếu đi khía cạnh lãnh thổ của sự phát triển đó”. Hoặc từ góc độ phạm vi và cấu trúc, các nhà kinh tế UNCTAD lại cho rằng “toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập quốc tế liên quan đến các luồng giao lưu không ngừng tăng lên của hàng 6 hoá và nguồn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành các cấu trúc tổ chức trên phạm vi toàn cầu nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế không ngừng tăng lên đó”15, tr.
Theo cách tiếp cận chuyên môn của mình, các chuyên gia cao cấp của IMF và WB đều có chung nhận định: Toàn cầu hoá kinh tế là sự gia tăng của quy mô và hình thức giao dịch hàng hoá, dịch vụ xuyên quốc gia, sự lưu thông vốn quốc tế cùng với sự truyền bá nhanh chóng của kỹ thuật, làm gia tăng phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế trên thế giới. Có thế nói, toàn cầu hoá dù được định nghĩa và hiểu theo các khái niệm khác nhau tuỳ mục đích nghiên cứu và từng giai đoạn lịch sử nhất định, song theo bản chất và nội dung của nó, “Toàn cầu hoá kinh tế là một xu hướng bao trùm của sự phát triển kinh tế thế giới ngày nay, trong đó các hoạt động kinh tế và sản xuất kinh doanh của mỗi nước và vùng lãnh thổ, do tác động của công nghệ, truyền thông và đặc biệt là tiền vốn, đã gia tăng mạnh mẽ, vượt ra khỏi biên giới quốc gia liên kết trên một chỉnh thế thị trường toàn cầu và đồng thời với quá trình đó là sự gia tăng mạnh mẽ làn sóng hình thành và hoàn thiện các định chế, tổ chức quốc tế (WTO, AFTA, APEC…) tương thích nhằm quản lý và điều hành các hoạt động kinh tế đã ngày càng lệ thuộc chặt chẽ vào nhau giữa các nước và khu vực”15. Từ những quan niệm trên, các nhà kinh tế đã thừa nhận tính tất yếu khách quan của toàn cầu hoá và HNKTQT. Đặc biệt làn sóng toàn cầu hoá kinh tế hiện đang nay được bắt đầu từ những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước hiện nay đang diễn ra hết sức mạnh mẽ nhờ sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và đặc biệt là sự tham gia ngày càng rộng rãi hơn của các quốc gia trong đó có cả các nước thuộc Thế giới Thứ ba vào tiến trình HNKTQT, thâm nhập vào thị trường thương mại toàn cầu.
Bên cạnh đó, xu hướng hiện nay cũng cho thấy những nước nỗ lực gia nhập tiến trình toàn cầu hoá và HNKTQT thì tăng trưởng kinh tế nhanh, giảm được đói nghèo và ngược lại, những nước ít tham gia vào tiến trình HNKTQT thì tăng trưởng chậm, thậm chí đói nghèo. Cũng cần phải nói thêm một đặc điểm phổ biến trong xu thế 7 HNKTQT, bên cạnh những dòng di dân, hàng hoá dịch vụ thì sự dịch chuyển của dòng vốn-tài chính là hết sức mạnh mẽ, dòng vốn di chuyển được thể hiện rất nhiều dạng mà điển hình là FDI đã xoá nhoà một cách tương đối biên giới của các quốc gia và khu vực. Tóm lại, tác động của toàn cầu hoá kinh tế đang trở nên phổ biến rộng khắp trên khắp thế giới, thể hiện trên nhiều cấp độ, mọi quốc gia, khu vực. Bên cạnh đó, sự tác động của nó cũng không giống nhau đối với các nhóm nước khác nhau trong đó những tác động của toàn cầu hoá kinh tế và HNKTQT đến hệ thống ngân hàng tài chính của các quốc gia, nhất là những đang phát triển, đã và đang là một trong nhưng vấn đề nổi cộm đang nhận được quan tâm của hầu hết các quốc gia trong tiến trình HNKTQT.
Vai trò của hệ thống ngân hàng trong quá trình HNKTQT Trong quá trình toàn cầu hoá và HNKTQT, hệ thống ngân hàng vừa là đối tượng vừa là tác nhân thúc đẩy. Vai trò của hệ thống ngân hàng trong quá trình này đã có những thay đổi quan trọng mặc dù nó vẫn đảm nhiệm các chức năng cơ bản như trước đây. Vai trò trung gian tài chính. NHTM trước hết là những doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hoá và dịch vụ đặc biệt: tiền tệ.
NHTM thực hiện các nghiệp vụ chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, gắn kết hai chủ thể trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu (tức là chi tiêu vượt quá thu nhập) và vì thế là những người cần bổ sung vốn, họ có cơ hội tạo ra lợi nhuận nhưng thiếu vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu (tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ). Họ có tiền để tiết kiệm và tìm kiếm cơ hội để khoản tiết kiệm đó sinh lời nhiều hơn. NHTM sẽ đứng giữa làm chức năng trung chuyển các khoản tiền giữa hai loại chủ thể này. Qua hệ thống các NHTM, sự không đồng bộ về khối lượng và thời hạn sử dụng đồng vốn giữa hai chủ thể sẽ được khắc phục, chi phí giao dịch sẽ giảm đi do lợi thế kinh tế nhờ quy mô.
Kết quả là cả người tiết kiệm và người cần huy động vốn đều có lợi. Động lực của quá trình này cũng chính là lợi nhuận. Các 8 NHTM trong qúa trình theo đuổi mục tiêu lợi nhuận sẽ phải cạnh tranh để thu hút khách hàng, sử dụng các kỹ thuận nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro và giảm chi phí giao dịch. Chính cơ chế hoạt động này của các NHTM đã thực sự tạo ra một sự phân bổ và sử dụng hợp lý nguồn lực của các quốc gia trong quá trình phát huy các lợi thế sánh.
Đây là điều đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Trong xu hướng toàn cầu hoá và HNKTQT, chức năng “trung gian tài chính” của NHTM vẫn đặc biệt quan trọng thể hiện ở những điểm sau đây: - Trong tiến trình HNKTQT, hoạt động thương mại và đầu tư sẽ dần được tự do hoá. Các doanh nghiệp trong nền kinh tế phải kịp thời và nhanh nhạy nắm bắt các cơ hội kinh doanh trên thương trường nếu không sẽ bị các đối thủ khác chiếm mất. Một trong những điều kiện để có thể nắm bắt được cơ hội là phải có vốn đủ và kịp thời. Do vậy, các NHTM sẽ chỗ dựa tốt nhất về vốn cho các doanh nghiệp.
Thông qua các NHTM, doanh nghiệp có thể huy động được một khoản vốn lớn, thời gian cấp vốn nhanh mà khó có thể có kênh dẫn vốn nào có được. Ngay cả với những nước đang phát triển với kênh dẫn vốn trực tiếp qua thị trường tài chính đã hình thành lâu năm, hệ thống NHTM vẫn là chỗ dựa chủ yếu của các doanh nghiệp trong việc tài trợ vốn cho sản xuất kinh doanh do những ưu điểm rất quan trọng của nó. Còn ở các nước đang phát triển như Việt Nam thì vai trò của các NHTM càng có ý nghĩa quyết định trong bối cảnh HNKTQT bởi hệ thống NHTM thường đóng vai trò chủ chốt trong hệ thống tài chính của các quốc gia này. - Với tư cách là Trung gian tài chính, các NHTM đóng vai trò là nhân tố hỗ trỡ doanh nghiệp khai thác nguồn lực một cách hiệu quả nhất.
Nguồn lực ở đây là nguồn lực xã hội. Vốn luôn là nguồn lực khan hiếm. Để có thể cạnh tranh trong quá trình HNKTQT một cách có hiệu quả, cần phải có cơ chế phân bổ và sử dụng nguồn lực một các hợp lý và hiệu quả nhất. NHTM sẽ phát huy vai trò này thông qua việc: (i) Lựa chọn và thẩm định các dự án vay vốn, đặt giá cho các dự án vay theo mức độ rủi ro của từng dự án; (ii) giám sát việc sử dụng đồng vốn để ngăn chặn các hành vi rủi ro đạo đức và có biện pháp xử lý 9 hợp lý kịp thời khi các khoản vay có dấu hiệu xấu; (iii) thu hút tiền gửi của khách hàng với mức lãi suất phù hợp với độ rủi ro của từng NHTM.
Điều này tạo động lực giữ cho mức rủi ro của mình thấp để tránh bị rút tiền ra hoặc bị đòi lãi suất tiền gửi ở mức cao. Cơ chế này tự động tạo ra sự phân bổ nguồn lực vốn khan hiếm có hiệu quả. - NHTM sẽ nơi cung cấp nguồn cho vay chủ yếu đối với tiêu dùng cá nhân.