chương 1 và sử dụng các số liệu thực tế thu thập được để đánh giá khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PTNA thông qua các chỉ tiêu và các công cụ cạnh tranh. Qua đó để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của ngân hàng ĐT&PTNA. Chương 3 của khoá luận là trên cơ sở khắc phục những điểm yếu và phát huy những điểm mạnh của ngân hàng để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PTNA. Vâ ThÞ Thu Hång K14 QTKD – §HKT- §HQGHN 7 Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Nghệ An Chƣơng I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái quát về hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái quát về ngân hàng thƣơng mại * Khái niệm Ngân hàng - Tổ chức kinh doanh tiền tệ - ngày càng gắn bó chặt chẽ với đời sống sản xuất – kinh doanh – tiêu dùng và không ngừng khẳng định vai trò quan trọng nhất trong hệ thống tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Cách tiếp cận thận trọng nhất và có thể xem xét tổ chức này trên phương diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Ngân hàng là tổ chức tài chính, cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Theo luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày 12/12/1997, sửa đổi năm 2001. Thì “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức kinh doanh tiền tệ và dịch vụ với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền này để cung cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”.
* Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại - Hoạt động huy động vốn. Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn - hoạt động tạo nguồn vốn cho ngân hàng thương mại, hoạt động này đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của ngân hàng. Các ngân Vâ ThÞ Thu Hång K14 QTKD – §HKT- §HQGHN 8 Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Nghệ An hàng thương mại đã tìm mọi cách để huy động được tiền bởi nguồn tiền huy động này là điều kiện cần để có thể thực hiện các hoạt động sử dụng vốn cho ngân hàng.
Một trong những nguồn quan trọng nhất của ngân hàng thương mại là các khoản tiền gửi thanh toán và tiết kiệm của khách hàng. Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư. Để gia tăng nguồn tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền gửi có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau: Nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm với nhiều kỳ hạn đa dạng - hấp dẫn, huy động trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi… ngoài ra, khi cần vốn cho nhu cầu thanh toán hay cho vay, đầu tư khác… ngân hàng có thể vay vốn từ các ngân hàng khác, vay trên thị trường tài chính hay vay của ngân hàng trung ương. - Hoạt động sử dụng vốn.
Với nguồn vốn huy động được, ngân hàng sử dụng vốn này vào nhiều mục đích khác nhau nhằm mục đích sinh lời hoặc đảm bảo khả năng thanh toán. Hoạt động sử dụng vốn là hoạt động hàm chứa nhiều rủi ro nhất của ngân hàng thương mại, song cũng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng. Hoạt động này bao gồm: + Hoạt động ngân quỹ: Là hoạt động đảm bảo khả năng chi trả, thanh toán tiền mặt thường xuyên của ngân hàng. Nguồn đảm bảo cho hoạt động này bao gồm các khoản tiền mặt trong quỹ của ngân hàng, tiền gửi tại ngân hàng trung ương hay các ngân hàng thương mại khác và tiền mặt trong quá trình thu.
Vâ ThÞ Thu Hång K14 QTKD – §HKT- §HQGHN 9 Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Nghệ An + Hoạt động đầu tư: Ngân hàng tham gia vào hoạt động đầu tư chứng khoán, mua bán chứng khoán trên thị trường trái phiếu, kỳ phiếu. Ngoài ra, ngân hàng còn tham gia đầu tư trực tiếp bằng cách mua cổ phiếu của các công ty, các doanh nghiệp, hùn vốn với các doanh nghiệp để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh sinh lời… + Các hoạt động sử dụng vốn khác: Quảng cáo, quảng bá, hoạt động tài trợ, quản lý ngân quỹ cho khách hàng… - Hoạt động trung gian. Khi thực hiện hoạt động này, ngân hàng đóng vai trò trung gian, cung cấp dịch vụ khác như: bảo quản tài sản hộ, cho thuê thiết bị… 1.2 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại * Khái niệm Tín dụng là quan hệ vay mượn, gồm cả cho vay và đi vay. Tuy nhiên, khi gắn tín dụng với chủ thể nhất định như ngân hàng (hoặc các trung gian khác), ví dụ như: tín dụng ngân hàng thì chỉ bao hàm nghĩa là ngân hàng cho vay.
Việc xác định như thế này là rất cần thiết để định lượng tín dụng trong các hoạt động kinh tế. Như vậy có thể rút ra khái niệm về tín dụng một cách đơn giản: Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả. Từ khái niệm về tín dụng có thể rút ra khái niệm về tín dụng ngân hàng như sau: Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư được thực hiện dưới hình thức vốn tín dụng bằng tiền bao gồm tiền mặt và bút tệ. * Hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại bao gồm: Vâ ThÞ Thu Hång K14 QTKD – §HKT- §HQGHN 10 Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Nghệ An - Tín dụng thương mại: Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với những người bán, người bán chuyển các khoản thu cho ngân hàng để lấy tiền trước.
Sau đó, ngân hàng cho vay trực tiếp đối với các khách hàng (người mua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh. - Tín dụng tiêu dùng: Trong giai đoạn đầu, hầu hết các ngân hàng thương mại không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ cho rằng các khoản cho vay tiêu dùng thường nhỏ lẻ và rủi ro mất vốn tương đối cao. Song sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong hoạt động cho vay đã hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như một khách hàng tiềm năng. - Tài trợ tín dụng cho dự án: Bên cạnh hoạt động truyền thống là các hoạt động tín dụng ngắn hạn, các ngân hàng này càng trở nên năng động trong việc tài trợ trung, dài hạn: Tài trợ xây dựng nhà, phát triển các dây chuyền công nghệ cao… Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào bất động sản.
Hoạt động tín dụng có rất nhiều hình thức: tín dụng trả góp, tín dụng trực tiếp nhiều lần, tín dụng gián tiếp… * Các hình thức tín dụng của ngân hàng thƣơng mại Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các ngân hàng thương mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Tín dụng có thể phân theo nhiều tiêu thức khác nhau, cụ thể: - Tín dụng phân chia theo thời hạn cấp tín dụng: + Tín dụng ngắn hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay không quá 12 tháng. Tín dụng ngắn hạn nhằm mục đích bổ sung vốn lưu động cho doanh nghiệp. Tín dụng ngắn hạn có đặc điểm: Lãi suất thường thấp, tính thanh khoản của món vay cao và độ rủi ro thấp.
Vâ ThÞ Thu Hång K14 QTKD – §HKT- §HQGHN 11 Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Nghệ An + Tín dụng trung hạn: Thời hạn cho vay từ 1 đến 5 năm. Tín dụng trung hạn nhằm mục đích tài trợ cho các tài sản cố định như sửa chữa, mua sắm thêm phương tiện vận tải, thay đổi sản phẩm hàng hoá… Tín dụng trung hạn có đặc điểm: Lãi suất thường cao, tính thanh khoản của món vay thấp và độ rủi ro tương đối cao. + Tín dụng dài hạn: Thời hạn cho vay trên 5 năm. Mục đích của hình thức cấp tín dụng dài hạn là tài trợ cho các công trình xây dựng cơ bản như cầu đường, sân bay, máy móc thiết bị có giá trị lớn thời gian sử dụng lâu dài phát triển sản xuất kinh doanh theo chiều rộng hoặc chiều sâu… Cho vay dài hạn có đặc điểm: Lãi suất và độ rủi ro rất cao, tính thanh khoản của món vay lại rất thấp.
- Tín dụng phân chia theo đảm bảo: + Tín dụng có tài sản đảm bảo: Là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay được bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Tín dụng có tài sản đảm bảo được chia thành tín dụng thế chấp và tín dụng cầm cố. Tín dụng thế chấp là hình thức mà người nhận tài trợ phải chuyển các giấy tờ chứng nhận sở hữu hoặc sử dụng các tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết. Tín dụng cầm cố: Là hình thức mà người nhận tài trợ của ngân hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết.
+ Tín dụng không có tài sản đảm bảo: Loại tín dụng này thường được cấp cho khách hàng có uy tín, làm ăn thường xuyên, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ dây dưa khó đòi hoặc cũng có thể cấp theo chỉ định của chính phủ.