CHƯƠNG 1: MÔT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH.1Lý thuyết và khái niệm cơ bản 1.Khái niệm về cạnh tranh Thuật ngữ “Cạnh tranh” có nguồn gốc từ tiếng La Tinh với nghĩa chủ yếu là sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá trị nhằm đạt được những ưu thế, lợi thế, mục tiêu xác định. Trong hình thái cạnh tranh thị trường, quan hệ ganh đua xảy ra giữa hai chủ thể cùng (nhóm người bán), cũng như chủ thể cầu (Nhóm người mua), cả hai nhóm này tiến tới cạnh tranh với nhau và được liên kết với nhau bằng giá cả thị trường. Theo Samuelson: Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng. Theo Kac-Marx: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá đẻe thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Theo kinh tế Amô thì một thị trường cạnh tranh hoàn hảo có rất nhiều người mua, người bán để cho không có một người mua hoặc một người bán duy nhất nào có ảnh hưởng, có ý nghĩa đối với giá cả. Theo cuốn “Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh” thì cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, là năng lực phát triển của kinh tế thị trường. Cạnh tranh là sự sống còn của mỗi doanh nghiệp, đó là sự ganh đua giữa các nhà doanh nghiệp trong việc giành một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao lợi thế của mình trên thị trường để đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần. Đối với xã hội, cạnh tranh là động lực quan trọng nhất để huy động nguồn lực của xã hội vào sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ còn thiếu.
Qua đó nâng Khoá luận tốt nghiệp trường ĐHTM Page 7 Luan van Họ và tên sinh viên: Đinh Thị Tươi MSV: 08D100271 cao năng lực sản xuất của toàn xã hội. Trong cạnh tranh, các doanh nghieưẹp yếu kém bị đào thải, doanh nghiệp mới xuất hiện. Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển, nhờ đó nguồn lực xã hội được sử dụng hợp lý, là cơ sở, tiền đề cho sự thành công trong việc tăng trưởng nền kinh tế ở mỗi quốc gia. khái niệm về năng lực cạnh tranh Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp .Trong từng điều kiện, bối cảnh KNCC là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả,lợi tức hoặc chất lượng sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác thị trường hiện nay và làm nảy sinh thị trường mới KNCC của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao Theo Micheael Porter :KNCT đồng nghĩa với năng suất lao động, năng suất lao động là thước đo duy nhất về khả năng cạnh tranh.
Theo tác giả Vũ Trọng Lâm :KNCC của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì sử dụng và sang tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Như vậy :”KNCC của doanh nghiệp là năng lưc về mọi hoạt động của sản phẩm kinh doanh của DN nhằm tạo ra những sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ chất lương cao với chi phí thấp, được thi trường chấp nhận. Nhờ đó DN có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường, đảm bảo việc thu lợi nhuận và thực hiện được những mục tiêu mà Dn đã đề ra.2 Một số lý thuyết của năng lực cạnh tranh 1.1 Quan điểm về cạnh tranh Theo Karl Marx :” cạnh tranh là sự ganh đua , sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điêù kiện thuận lợi trong sản xuất tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch “ Khoá luận tốt nghiệp trường ĐHTM Page 8 Luan van Họ và tên sinh viên: Đinh Thị Tươi MSV: 08D100271 Theo các học giả trường phái tư sản cổ điển:” cạnh tranh là quá trình bao gồm các hành vi phản ứng , quá trình này tạo cho mỗi thành viên trong thị trường một ư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phầs n xứng đáng so với khả năng của mình”.Sự cạnh tranh làm cho mỗi thành viên trong thi trường có những hoạt động vươn lên khẳng định mình để từ đó thu được kết quả thi trường mà họ đã bỏ ra Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng :” tính cạnh tran là khả năng của các DN, ngành , quốc gia , khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế “.Chính vì điều này mà chúng ta thấy một số nước trong khu vực đang đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất kinh doanh tại các nước đang phát triển với mục đích thu được lợi nhuận cao nhất vì họ có được nguồn nhân lực , giá nhân và nguyên vật liệu rẻ.2 Một số lý thuyết về năng lực cạnh tranh Theo quan điểm quản trị chiến lược của Michael Porter thì KNCT của các hãng được quyết định bởi sức mạnh của các lực lượng cạnh tranh trong ngành , các lực lượng này bao gồm các đối thủ cạnh tranh tiềm năng , các sản phẩm thay thế , người cung ứng , khách hàng và đối thủ cạnh tranh hiện tại của ngành “. Các DN cần phải nâng cao KNCT của mình để có thể thắng được sức ép từ các đối thủ cạnh tranh , lấy được uy tín , lòng tin của khách hàng và nhà cung cấp.DN cần phải nghiên cứu các vấn đề trên , không ngừng cải tiến , nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như các dịch vụ đi kèm ….tạo ra thế đứng riêng cho mình. Theo quan điểm của tân cổ điển thì :”KNCT của một sản phẩm là quan điểm dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất “.Như vậy,KNCT của một ngành, công ty được đánh giá cao hay thấp tùy thuộc vào chi phí sản xuất , đây là điều kiện cơ bản để xây dựng lợi thế cạnh tranh.
Khoá luận tốt nghiệp trường ĐHTM Page 9 Luan van Họ và tên sinh viên: Đinh Thị Tươi MSV: 08D100271 Theo quan điểm tổng hợp của Vardwer ,E.Westgren thì :KNCCT của một ngành, một công ty được thể hiện ở việc tạo ra và duy trì thị phần lợi nhuận trên các thị trường trong và ngoài nước Theo GS .TS Nguyễn Bách Khoa trình bày trong bài viết :” phương pháp luận xác định năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của doanh nghiệp “ đăng trên tạp chí khoa học thương mại của trường Đại Học Thương Mại đã viết :Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và năng lực cạnh tranh sản phẩm nói riêng được hiểu là tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần , lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của sản phẩm đó trong mối quan hệ với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tang trên thị trường trên một thị trường mục tiêu xác định .3 lý thuyết các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một sản phẩm người ta thường sử dụng các tiêu chí để lượng hóa trong mối tương quan so sánh với các đối thủ cạnh tranh .Việc nghiên cứu các vấn đề này tập trung trên hai lĩnh vực hoạt động chính :Năng lực cạnh tranh nguồn và năng lực cạnh tranh thị trường. Cụ thể như sau: *Các năng lực cạnh tranh nguồn : -Năng lực tài chính : bất cứ hoạt động sản xuất hay kinh doanh nào cũng phải xem xét , tính toán đến nguồn lực tài chính của doanh nghiệp , năng lực tài chính đặc biệt là vốn Năng lực tài chính là một chỉ tiêu không thể thiếu đánh giá kết quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh trên thị trường của mỗi doanh nghiệp. Năng lực tài chính mạnh cần được cân nhắc khi đánh giá năng lực cạnh tranh thông qua các tham số : lợi nhuận , tỷ suất lợi nhuận , nguồn vốn , dòng tiền mặt tổng tài sản , tài sản lưu động … -Năng lực quản trị lãnh đạo : quản lý là sự tác động trực tiếp của các cấp lãnh đạo tới cán bộ công nhân nhằm thực hiện mục tiêu doanh nghiệp. Người quản lý có Khoá luận tốt nghiệp trường ĐHTM Page 10 Luan van Họ và tên sinh viên: Đinh Thị Tươi MSV: 08D100271 vai trò quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của mỗi doanh nghiệp , đồng thời là thời là tiêu chí quan trọng để đánh giá thành công hay thất bại của doanh nghiệp.
Philip Kotler đã chỉ ra rằng :Quản trị là đương đầu với tính phức tạp _một quyết định quản trị tốt phải đạt được một mức quyết định và khả năng định hướng đúng và các vấn đề chất lượng và tính sinh lợi của sản phẩm. Một nhà quản trị có chức năng chính như : hoạch định, tổ chức lãnh đạo , kiểm soát. Vì vậy để quản trị làm tốt được các chức năng chính ở trên đòi hỏi phải có trình độ ,năng lực,kỹ năng , tầm nhìn , nắm bắt và sử dụng thông tin như thế nào ? vì vậy để đánh giá năng lực của nhà quản trị cần phải so sánh đánh giá hiệu quả của những chức năng trên so với đối thủ cạnh tranh. -Chất lương nguồn nhân lực :Ngoài nguồn nhân lực về tài chính thì chất lượng nguồn nhân lực là tiêu chí quan trọng đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nó là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của mỗi doanh nghiệp .Để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực đánh giá qua các tiêu chí : trình độ , số lương, cơ cấu , khả năng hiện tại và tương lai của đội ngũ lao động -Năng lực R&D : ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển , đời sống ngày càng được nâng cao kèm theo đó nhu cầu của người tiêu dùng cũng phát triển không ngừng. Vì vậy để áp ứng tốt và đem lại cho khách hành những sản phẩm phù hợp nhu cầu hiện tại đòi hỏi doanh nghiệp không ngừng phát triển, nghiên cứu, đổi mới, cải tiến để đưa đến cho người tiêu dùng những sản phẩm tốt phù hợp với nhu cầu .