CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ TNDN VÀ KẾ TOÁN THUẾ TNDN 1. Khái niệm Thuế Thu nhập được sử dụng như là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các cá nhân và tổ chức kinh tế trong xã hội. Điều này đặc biệt cần thiết trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh vì thu nhập của một cá nhân hay tổ chức phụ thuộc vào việc cung cấp các yếu tố sản xuất. Thuế thu nhập được sử dụng như một công cụ điều tiết, kích thích tiết kiệm và đầu tư theo hướng nâng cao năng lực hiệu quả xã hội.
Một trong những lý thuyết căn bản của Kenyes là lý thuyết về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập - mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp. Do vậy, để tăng phúc lợi xã hội, cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập của những đối tượng có thu nhập cao và phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp. Thuế thu nhập công ty trên thế giới hay thuế TNDN ở Việt Nam là một sắc thuế thuộc loại thuế thu nhập, nó được hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng vì tính hiệu quả và khả năng bao quát nguồn thu. Mỗi nước với những đặc điểm kinh tế- chính trị - xã hội khác nhau mà quan niệm và cách thức áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp là khác nhau.
Theo chuẩn mực kế toán số 17 – Thuế TNDN :“Thuế TNDN bao gồm toàn bộ số thuế TNDN tính trên thu nhập chịu thuế TNDN, kể cả các khoản thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ tại ngước ngoài mà Việt Nam chưa ký Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần. Thuế TNDN bao gồm cả các loại thuế liên quan khác được khấu trừ tại nguồn đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt nam không có cơ sở thường trú tại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Việt Nam được thanh toán bởi công ty liên doanh liên kết hay công ty con tính trên khoản phân phối cổ tức, lợi nhuận (nếu có); hoặc thanh toán dịch vụ cung cấp cho đối tác cung cấp dịch vụ nước ngoài theo quy định của Luật thuế TNDN hiện hành. 1 Thuế TNDN được ban hành lần đầu tiên vào năm 1998 gọi là thuế lợi tức, trải qua 3 lần sửa đổi vào năm 2003, năm 2008 và năm 2013 cùng với các Luật thuế khác đã trở thành hệ thống chính sách thuế đồng bộ, đã khắc phục được những hạn chế của các luật thuế trước đây. Tuy nhiên, có thể đưa ra một khái niệm được pháp luật Việt Nam và nhiều nước khác thừa nhận: “Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp vào thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh hàng hóa dịch vụ sau khi đã trừ đi các khoản chi phí liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh” 2 Ngoài những đặc điểm chung của thuế là có tính cưỡng chế và tính pháp lý cao, là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp, thuế thu nhập doanh nghiệp còn có một số đặc điểm riêng cụ thể là: - Thuế TNDN là loại thuế trực thu: Vì đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế TNDN là một, tức là không có sự chuyển giao gánh nặng thuế từ người nộp thuế sang người chịu thuế.
- Là loại thuế đánh vào lợi nhuận của các cơ sở sản xuất kinh doanh: Bởi vậy, mức động viên của NSNN đối với loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh cũng như quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp, Doanh nghiệp có 1 26 Chuẩn mực kế toán Việt Nam 2 Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 thu nhập chịu thuế cao sẽ phải nộp thuế nhiều, ngược lại những doanh nghiệp có thu nhập thấp hoặc gặp khó khăn sẽ phải nộp thuế ít thậm chí được giảm thuế, miễn thuế. - Chỉ đánh vào phần thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi chi phí liên quan để tạo ra thu nhập đó. - Về nguyên tắc, thuế có tính chất luỹ tiến. Tuy nhiên, do những điều kiện cụ thể mà một số nước trong đó có Việt Nam áp dụng thuế suất thống nhất.
Vai trò, tác dụng: Từ thực tế áp dụng thuế TNDN ở Việt Nam trong những năm qua có thể thấy, đây là một sắc thuế mang lại hiệu quả kinh tế xã hội to lớn cho đất nước Một là, thuế TNDN đem lại số thu lớn hơn nhiều so với thuế lợi tức trước đây. Điều này thể hiện ở phạm vi điều chỉnh rất rộng của thuế TNDN. Đã khai thác nguồn thu từ các đối tượng nộp thuế có tiến hành sản xuất kinh doanh có thu nhập ở mọi lĩnh vực trên mọi địa bàn. Xu hướng tăng trưởng và phát triển kinh tế ngày càng cao ở Việt Nam hiện nay càng thể hiện tiềm năng đây là nguồn thu chắc chắn có quy mô lớn cho ngân sách nhà nước.
Thông qua luật thuế TNDN, Nhà nước đã nắm và điều tiết được các khoản thu nhập phát sinh trong các cơ sở sản xuất kinh doanh, bao gồm: Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, thu nhập từ chênh lệch mua bán chứng khoán, thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, lãi về chuyển nhượng, cho thuê thanh lý tài sản, lãi tiền gửi, lãi cho vay,…Do đó nguồn thu từ thuế tương đối ổn định đã chiếm một phần quan trọng trong tổng số thu thuế và phí của ngân sách nhà nước. Hai là, thông qua luật thuế thu nhập doanh nghiệp, nhà nước thực hiện việc điều tiết nền kinh tế. Qua những năm thực hiện luật thuế TNDN đã kích thích các thành phần kinh tế góp vốn đầu tư đẩy nhanh tốc độ phát triển toàn xã LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã góp phần khuyến khích đầu tư đẩy nhanh tốc độ đầu tư và thay đổi cơ cấu nền kinh tế.
Thông qua các kênh ưu đãi về thuế suất và miễn giảm thuế cho các dự án đầu tư các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế có điều kiện khó khăn, luật thuế thu nhập doanh nghiệp hỗ trợ về vốn và khuyến khích các doanh nghiệp thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh mới, đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô đổi mới cộng nghệ, cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất, hướng đầu tư vào những lĩnh vực ngành nghề vùng kinh tế theo định hướng phát triển kinh tế của nhà nước, từng bước tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế. Thông qua luật thuế TNDN, Nhà nước nắm được tình hình sản xuất kinh doanh thực tế của các doanh nghiệp, từ đó có quyết sách đúng đắn khi thực hiện chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Luật thuế TNDN còn thể hiện vai trò trong việc thúc đẩy các chính sách sản xuất kinh doanh tăng cường công tác hạch toán kinh doanh. Bằng việc quy định các khoản chi phí hợp lý để xác định thu nhập chịu thuế phải có các hoá đơn chứng từ hợp pháp đã giúp cho các chính sách sản xuất kinh doanh quan tâm hơn đến việc tiết kiệm chi phí, tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh, củng cố công tác kế toán, hóa đơn chứng từ theo đúng quy định.
Ba là, trong điều kiện thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế thì áp dụng thuế TNDN là nhằm mục đích bao quát nguồn thu đảm bảo công bằng nghĩa vụ nộp thuế. Pháp luật thuế đối với người có thu nhập cao đã được ban hành song chỉ điều tiết được một lượng nhỏ cá nhân có thu nhập cao. Thực tế, một số lượng lớn những người có thu nhập cao nhưng không chịu sự điều tiết của luật thuế này. Chẳng hạn như những người nhận thu nhập từ vốn của các công ty nhưng đầu tư ngay trở lại công ty mà không khai báo nhờ đó tránh được thuế thu nhập cá nhân.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Thuế thu nhập cá nhân của nước ta chưa điều tiết được những đối tượng này là do nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi, trình độ quản lý chưa tốt, ý thức tự giác của người dân về các khoản đóng góp cho Nhà nước chưa cao, hệ thống tài chính Ngân hàng còn yếu, nên không có căn cứ để kiểm soát hết các nguồn thu nhập nhất là trong điều kiện nền kinh tế sử dụng tiền mặt như hiện nay. Do vậy, thuế TNDN với tư cách là một sắc thuế khấu trừ trước, bổ sung cho thuế thu nhập cá nhân vẫn tham gia điều tiết thu nhập của một bộ phận cá nhân tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh Bốn là, thuế TNDN là công cụ thúc đẩy công tác hạch toán kế toán ở đơn vị. Theo quy trình thu thuế TNDN các đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ tự kê khai và tính số thuế phải nộp, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm về số liệu kê khai, tính toán đó. Sự trung thực, chính xác của số liệu phụ thuộc rất lớn vào công tác hạch toán kế toán ở đơn vị.
Để đảm bảo thu đúng, thu đủ thuế TNDN, cơ quan thuế phải chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế. Qua đó, phát hiện những sai sót hoặc biểu hiện tiêu cực trong quá trình hạch toán kế toán của đối tượng nộp thuế. Tuỳ từng trường hợp sai phạm mà cơ quan thuế áp dụng những biện pháp như hướng dẫn, góp ý, hoặc xử phạt hành chính… Nhờ vậy, ý thức của đối tượng nộp thuế sẽ dần được nâng cao và công tác hạch toán kế toán cũng từng bước được hoàn thiện. Năm là, thuế TNDN là công cụ đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Căn cứ vào số thuế TNDN doanh nghiệp phải nộp để so sánh với số thuế TNDN của các doanh nghiệp khác cùng ngành nghề đóng trên địa phương hoặc cả nước để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Số thuế TNDN phải nộp càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp đó hoạt động hiệu quả nên lợi nhuận cao tương ứng với số thuế TNDN đó. Nếu số thuế TNDN tăng lên qua các năm chứng tỏ doanh nghiệp đang tăng trưởng. Và ngược lại, số thuế TNDN giảm qua các năm chứng tỏ hiệu quả hoạt động của DN đang giảm sút.
Do đó có thể nói LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 thuế TNDN là một công cụ đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.