mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tạo sự nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí, rút ngắn thời gian kinh doanh, nâng cao thu nhập cho khách hàng. Khi ngân hàng mở rộng phạm vi thanh toán, tiện ích tạo ra cho khách hàng ngày càng nhiều khuyến khích khách hàng gửi tiền ngày càng nhiều nhờ thanh toán hộ. Có nhiều hình thức thanh toán được ngân hàng đưa ra như séc, nhờ thu, nhờ chi, … * Dịch vụ thông tin tư vấn: xuất phát từ đặc điểm kinh doanh riêng có của hệ thống ngân hàng đã tạo cho nó lợi thế hơn hẳn trong việc cung cấp cho khách hàng những lời khuyên tốt nhất về đầu tư, quản lý tài chính, thành lập, mua bán, sát nhập doanh nghiệp, qua đó giúp khách hàng giảm thiệt hại và nâng cao thu nhập cho khách hàng. Thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng không những thu được phí mà còn mở rộng quan hệ, nắm bắt chính xác tình hình kinh doanh của họ, từ đó đưa ra quyết định cho vay, ngoài ra còn củng cố, tăng cường vị trí, uy tín của ngân hàng một cách hiệu quả nhất.2 Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thƣơng mại 1.1 Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng Trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước, nguồn vốn huy động luôn có ý nghĩa quan trọng, giữ vai trò quyết định đến sự phát triển lâu dài và vững chắc, bởi vì sự chi viện, bổ sung từ bên ngoài dù là viện trợ cho vay hay đầu tư nước ngoài 10 cũng chỉ là tạm thời.
Những cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ của các nước trong khu vực và trên thế giới thời gian qua đã minh chứng rằng không thể và không nên hoàn toàn mong đợi sự tăng trưởng, phát triển nhanh và vững chắc nhờ vào nguồn vốn bên ngoài mà phải tích cực mở rộng công tác huy động vốn từ nội bộ nền kinh tế. Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, để ổn định tiền tệ và đặc biệt trong điều kiện hiện nay ở nước ta, nhiệm vụ kiềm chế lạm phát đang là yêu cầu bức thiết, Nhà nước phải sử dụng đồng bộ các giải pháp về kinh tế, tài chính - tiền tệ, trong đó, tăng cường huy động vốn trong dân qua hệ thống NHTM là giải pháp khá hữu hiệu. Thực tế cho thấy một nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững khi nguồn tiền để đầu tư chủ yếu phải là từ tiết kiệm của dân chúng, tiết kiệm của nền kinh tế.1 Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh Vốn là điều kiện bắt buộc để ngân hàng có được giấy phép tổ chức và hoạt động trước khi nó có thể huy động được những khoản tiền gửi đầu tiên. Một ngân hàng mới luôn cần vốn ban đầu để mua đất, xây dựng cơ sở hạ tầng, trang bị những điều kiện làm việc, thuê nhân viên.
Đặc trưng của hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ là phương tiện hoạt động kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại. Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường tiền tệ (thị trường vốn ngắn hạn) và thị trường chứng khoán (thị trường vốn dài hạn). Những ngân hàng trường vốn là những ngân hàng có thế mạnh trong kinh doanh. Chính vì thế, có thể nói: Vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng.
Do đó, ngoài vốn ban đầu cần thiết thì ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình 1.2 Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng Vốn của ngân hàng quyết định tới việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng. Thông thường, nếu so với các ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ có các khoản mục đầu tư và cho vay kém đa dạng, phạm vi và khối lượng cho vay của các 11 ngân hàng cũng nhỏ hơn. Trong khi các ngân hàng lớn cho vay được thì tại thị trường trong vùng, thậm chí trong nước và cả quốc tế, các ngân hàng nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi hẹp, mà chủ yếu là trong cộng đồng. Thêm vào đó, do khả năng vốn hạn hẹp nên các ngân hàng nhỏ không có phản ứng nhạy bén được với sự biến động của lãi suất trên thị trường, gây ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế.
Vốn tạo niềm tin cho công chúng và là sự đảm bảo với các chủ nợ về sức mạnh tài chính của ngân hàng và đảm bảo với những người đi vay rằng ngân hàng có thể đáp ứng các nhu cầu tín dụng của họ ngay cả trong điều kiện nền kinh tế đang gặp khó khăn.3 Vốn quyết định năng lực thanh toán, năng lực cạnh tranh và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thương trường Thật vậy, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động trong nền kinh tế thị trường, đòi hỏi các ngân hàng phải có uy tín. Uy tín đó phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng của ngân hàng. Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn. Vì vậy, loại trừ các nhân tố khác, khả năng thanh toán của ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của ngân hàng nói chung và với số vốn khả dụng của ngân hàng nói riêng.
Với tiềm năng vốn lớn, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với qui mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nhằm vừa giữ được chữ tín, vừa nâng cao thanh thế của ngân hàng trên thương trường. Vốn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển các hình thức dịch vụ mới, cho những chương trình và trang thiết bị mới. Khi một ngân hàng phát triển nó cần vốn bổ sung để thúc đẩy tăng trưởng và chấp nhận rủi ro gắn với sự ra đời các dịch vụ mới. Bổ sung vốn sẽ cho phép ngân hàng mở rộng trụ sở, xây dựng thêm những văn phòng chi nhánh để theo kịp sự phát triển của thị trường và tăng cường chất lượng phục vụ khách hàng.Vốn được xem như một phương tiện điều tiết sự tăng trưởng, giúp đảm bảo rằng sự tăng trưởng của một ngân hàng có thể được duy trì, ổn định và lâu dài.2 Vốn huy động trong Ngân hàng Thương Mại 12 Thực tế các năm qua cho thấy, hệ thống ngân hàng thương mại vẫn là kênh huy động vốn chủ yếu cho đầu tư phát triển.
Để có vốn cho vay, các NHTM đã huy động vốn trong xã hội, vốn trong dân, vốn nước ngoài. Hệ thống ngân hàng huy động vốn cho đầu tư phát triển bằng đa dạng các phương thức, như: giải tỏa vốn đọng trong số nợ xấu, phát hành cổ phiếu và trái phiếu tăng vốn điều lệ, thu hút tiền gửi tiết kiệm và phát triển dịch vụ ngân hang 1.1 Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu cung cấp năng lực tài chính cho quá trình tăng trưởng, mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động cũng như cho sự phát triển của các sản phẩm dịch vụ mới của NHTM. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại có các thành phần sau: - Vốn góp là nguồn được đóng góp chủ yếu bởi những người chủ ngân hàng dưới hình thức mua cổ phiếu: Cổ phiếu thường: được đo bằng mệnh giá của tổng số cổ phiếu thường hiện hành. Loại cổ phiếu này đem lại cho người sở hữu một khoản thu nhập thay đổi phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng quản trị về mức chi trả cổ tức.
Cổ phiếu ưu đãi: có giá trị được xác định bằng mệnh giá của tổng số cổ phiếu ưu đãi hiện hành. Cổ phiếu này có thể là vĩnh viễn hoặc chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định và nó đảm bảo thanh toán một tỷ lệ thu nhập cố định. Vốn góp = Tổng Số cổ phần phát hành * Mệnh giá Cổ phiếu - Thặng dư vốn: thể hiện thị giá của các cổ phiếu vượt quá mệnh giá mà các cổ đông trả cho ngân hàng. - Lợi nhuận tích luỹ: là phần thu nhập của ngân hàng được giữ lại trong quá trình kinh doanh thay vì dùng để chi trả cổ tức.
Phần này về bản chất thuộc sở hữu của các cổ đông, song được “vốn hoá” nhằm mở rộng quy mô của vốn chủ sở hữu. Đặc điểm của vốn chủ Vốn chủ là nguồn vốn ổn định và luôn tăng trưởng trong quá trình hoạt động của ngân hàng. Vốn chủ của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh (thông thường từ 8% đến 10%), tuy nhiên nó lại giữ một vai trò rất quan 13 trọng vì nó là cơ sở để hình thành nên các nguồn vốn khác của ngân hàng đồng thời tạo nên uy tín ban đầu của ngân hàng. Vốn chủ quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng, cụ thể vốn chủ là cơ sở để xác định giới hạn huy động vốn của ngân hàng.
Nó còn là yếu tố để các cơ quan quản lý dựa vào để xác định các tỉ lệ an toàn trong kinh doanh ngân hàng.2 Vốn nợ Vốn nợ là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và dùng làm vốn để kinh doanh. Bản chất của nguồn vốn nợ là tài sản thuộc sở hữu khác nhau. Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi khi đến kỳ hạn (tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn (tiền gửi không kỳ hạn). Vốn nợ đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHTM.
Vốn nợ luôn luôn biến động nên ngân hàng không được phép sử dụng hết số vốn này vào trong kinh doanh mà phải dự trữ một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán. Vốn nợ bao gồm : Vốn huy động từ tiền gửi: Ngân hàng huy động bằng cách cung ứng nhiều loại tiền gửi khác nhau về kỳ hạn, hình thức trả lãi…cho khách hàng lựa chọn. Mỗi công cụ huy động tiền gửi mà ngân hàng đưa ra đều có những đặc điểm riêng nhằm đáp ứng các nhu cầu đa dạng của khách hàng trong việc tiết kiệm, thanh toán. Theo đối tượng khách hàng thì vốn tiền gửi của NHTM gồm tiền gửi của tổ chức kinh tế, tiền gửi của dân cư và tiền gửi khác.