CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI I. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Tính đến thời điểm hiện tại, Ngân hàng thương mại (NHTM) đã có một khoảng thời gian hoạt động tương đối dài. NHTM là một trung gian tài chính hình thành tồn tại, phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và dựa trên sự khác biệt về tiền tệ giữa các vùng, các khu vực khác.
NHTM là phạm trù kinh tế học. Các nhà kinh tế học trên Thế giới đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về NHTM.Rose (2008), Bank management & Financial services cho rằng: “Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Đạo luật ngân hàng Pháp (1941) cũng đã định nghĩa rằng: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. Tại Việt Nam, theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Chức năng của Ngân hàng thương mại 2. Chức năng trung gian tài chính Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trung gian tài chính điển hình và đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn (các cá nhân và tổ chức có thu nhập hiện tại lớn hơn 6 các khoản chi) và người có nhu cầu về vốn (các cá nhân và tổ chức tạm thời có nhu cầu chi cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập hiện có) thông qua việc nhận tiền gửi và cấp tín dụng cho khách hàng.
Chức năng trung gian thanh toán Ngân hàng thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng dưới nhiều hình thức như ủy nhiệm chi, nhờ thu, séc, thẻ,. Đây cũng là chức năng mang lại nhiều lợi ích cho ngân hàng; bên cạnh doanh thu từ phí mà các dịch vụ thanh toán mang lại, ngân hàng còn có thể mở rộng huy động vốn và cấp tín dụng. Tạo phương tiện thanh toán Hệ thống ngân hàng tham gia vào quá trình tạo tiền của nền kinh tế. Chức năng này được thực hiện thông qua hai chức năng còn lại của NHTM là chức năng trung gian tài chính và chức năng thanh toán.
Khi ngân hàng tiến hành cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, từ đó, ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán cho khách hàng. Khi khách hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả sẽ tạo nên khoản thu cho một khách hàng khác tại một ngân hàng khác và ngân hàng lại tiếp tục dùng số tiền đó để cho vay. Kết quả là toàn bộ hệ thống NHTM sẽ tạo ra khối lượng tiền lớn hơn rất nhiều lượng tiền cơ sở ban đầu. Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 3.
Huy động vốn Huy động vốn là hoạt động tiền đề, đóng vai trò quan trọng đối với NHTM trong việc hình thành nguồn vốn thường xuyên, ổn định, giúp NHTM thực hiện các hoạt động kinh doanh khác như cấp tín dụng hay cung cấp dịch vụ thanh toán khác. Trong nghiệp vụ này, NHTM sử dụng những công cụ, biện pháp phù hợp mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội, đáp ứng nhu cầu kinh doanh của NHTM cũng như tài trợ cho nền kinh tế. Ngân hàng thương mại huy động vốn dưới các hình thức sau: 7 + Vốn tự có của NHTM được hình thành khi NHTM được thành lập và bổ sung hàng năm từ lợi nhuận kinh doanh, vốn góp thêm của chủ sở hữu, tuy nhiên chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ. + Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc NHNN chấp nhận. + Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức tín dụng nước ngoài. + Vay vốn ngắn hạn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn. + Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN 3.
Hoạt động tín dụng Ngân hàng cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN. Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ Ngân hàng thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ dưới hình thức: + Cung ứng các phương tiện thanh toán. + Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng. + Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ.
+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN. + Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép. + Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng. Các hoạt động khác Góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hội, kinh doanh vàng, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ và bảo hiểm, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, dịch vụ tư vấn và dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng.
HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tiền gửi của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Theo khoản 9, Điều 20, Luật các tổ chức tín dụng 2010 định nghĩa về tiền gửi như sau: “Tiền gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền”.
“Huy động vốn là tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân bằng nhiều hính thức khác nhau để hình thành nên nguồn vốn của ngân hàng”. Như vậy, hoạt động nhận tiền gửi hay còn gọi là huy động tiền gửi của NHTM là: “Hoạt động nhận tiền của các tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”. Đặc điểm Nguồn vốn từ huy động tiền gửi không thuộc sở hữu của NHTM và phải được thanh toán ngay khi khách hàng yêu cầu, kể cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn thanh toán. Tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM và là cơ sở tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.
Hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại có những đặc điểm sau: Hoạt động huy động tiền gửi của NHTM là hoạt động cơ bản làm cơ sở cho hoạt động kinh doanh ngân hàng. 9 Hoạt động huy động tiền gửi của NHTM chứa đựng nguy cơ rủi ro cao, sự tác động tích cực và tiêu cực của nó thường mang tính phản ứng “dây chuyền” do đó ảnh hưởng đến cả hệ thống ngân hàng và tác động đến toàn bộ nền kinh tế. Hoạt động huy động tiền gửi của NHTM gắn liền với việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia của ngân hàng nhà nước. Vai trò Huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại có một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và góp phần không nhỏ trong sự phát triển của nền kinh tế cũng như xã hội.
Đối với ngân hàng Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng vì nó là nguồn vốn chủ yếu được sử dụng để đáp ứng nhu cầu tín dụng cho nền kinh tế. Đối với khách hàng Hoạt động huy động vốn cung cấp cho họ một kênh tiết kiệm và đầu tƣ nhằm cho tiền của họ sinh lợi, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai. Mặt khác, hoạt động huy động vốn còn cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để họ cất giữ, tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi của mình. Đối với xã hội Quản lý được lượng tiền lưu thông trong xã hội.
Định hướng đầu tư cho các ngành kinh tế cho từng vùng. Điều hòa vốn giữa khách hàng có vốn và những khách hàng thiếu vốn, luân chuyển nguồn vốn. Góp phần kiểm soát lạm phát cũng như cung cấp hàng hóa cho thị trường tài chính. Các hình thức huy động tiền gửi của Ngân hàng thương mại 2.
Tiền gửi thanh toán của cá nhân, tổ chức 10 Đây là khoản tiền mà khách hàng là cá nhân, tổ chức gửi vào ngân hàng, nhờ ngân hàng giữ hộ và thanh toán hộ. Sau khi mở tài khoản tiền gửi thanh toán, khách hàng gửi tiền vào tài khoản và chỉ có thể thanh toán trong phạm vi số dư, trừ trường hợp thấu chi, Nhìn chung, lãi suất mà ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi thanh toán thường rất thấp (có khi bằng không), nhưng bù lại chủ tài khoản được hưởng các dịch vụ với mức phí thấp. Ngân hàng thu lợi từ phí (phí mở thẻ, phí thanh toán, phí rút tiền, .) hoặc có thể sử dụng một phần số dư tiền gửi thanh toán để đáp ứng nhu cầu dự trữ và một phần để cho vay và thu lợi từ lãi. Một trong những tiêu chí quan trọng để huy động được nhiều tiền gửi thanh toán là khả năng thanh toán an toàn, nhanh và chính xác.