Chương 1: Lý luận chung về phát triển hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội - Chi nhánh Điện Biên Phủ Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội – Chi nhánh Điện Biên Phủ 4 CHƢƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Các vấn đề cơ bản về hoạt động bảo lãnh ngân hàng 1. Khái niệm, đặc điểm và chức năng của bão lãnh ngân hàng 1.
Khái niệm Bảo lãnh ngân hàng (Bank guarantee) đã được bắt đầu sử dụng rộng rãi từ thập niên 70. Sự phát triển nhanh chóng của các nước sản xuất dầu hỏa trong thời gian này ở Trung Đông cho phép họ ký kết những hợp đồng lớn với những công ty phương Tây cho những dự án lớn. Nguồn gốc phát sinh nhu cầu về bảo lãnh ngân hàng, đặc biệt là những bảo lãnh thanh toán ngay lần yêu cầu đầu tiên có lẽ xuất phát từ khu vực này. Hiện nay, việc sử dụng bảo lãnh ngân hàng bùng nổ mạnh mẽ ở các quốc gia trên thế giới và doanh số của nó đạt đến mức kỷ lục.
Có thể nói rằng những thương vụ lớn với nước ngoài hiện nay không thể không có một dạng nào đó của bảo lãnh đi kèm. Hơn nữa, bảo lãnh ngân hàng còn được sử dụng rộng rãi trong các hợp đồng thương mại, xây dựng trong nước. Sự tăng trưởng này một phần vì bảo lãnh ngân hàng có thể sử dụng để hỗ trợ cho tất cả các dịch vụ, bao gồm cả các dịch vụ không mang tính tài chính như hợp đồng thương mại, hợp đồng xây dựng và những dịch vụ mang tính tài chính như thỏa ước thấu chi, thỏa ước tham gia liên doanh, tính bảo hiểm và những cam kết tài chính khác. Có thể hiểu “Hoạt động bảo lãnh ngân hàng là một dịch vụ ngân hàng, theo đó, ngân hàng thương mại sử dụng uy tín và sức mạnh tài chính của mình cam kết với bên nhận bảo lãnh để bảo lãnh cho bên được bảo lãnh thực hiện một nghĩa vụ đã được quy định từ trước.
Ngân hàng thương mại chịu trách nhiệm trả tiền theo yêu cầu của bên nhận bảo lãnh khi điều kiện quy định trong cam kết bảo lãnh được đáp ứng.” Trách nhiệm này là không hủy ngang, trừ khi có sự chấp nhận của bên nhận bảo lãnh. Sau khi thanh toán cho bên nhận bảo lãnh, ngân hàng thương mại có quyền truy đòi bên được bảo lãnh và bên được bảo lãnh có nghĩa vụ phải bồi hoàn cho ngân hàng thương mại số tiền đã trả thay. Như vậy, trong một bảo lãnh ngân hàng thường có ít nhất ba thành phần sau: - Bên bảo lãnh (ngân hàng bảo lãnh) – the Guarantor: Là ngân hàng thương mại phát hành cam kết bảo lãnh. Đó thường là ngân hàng thương mại có khả năng tài chính, có chức năng phát hành cam kết bảo lãnh và bên thụ hưởng chấp nhận.
Có thể là một 5 ngân hàng thương mại phục vụ bên được bảo lãnh hoặc nhiều ngân hàng thương mại tham gia. - Bên được bảo lãnh: là khách hàng được ngân hàng thương mại bảo lãnh. Bên được bảo lãnh có thể là tổ chức hoặc cá nhân, trong hoặc ngoài nước và có đủ điều kiện để được ngân hàng bảo lãnh. - Bên nhận bảo lãnh (còn gọi là bên thụ hưởng): Là tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng bảo lãnh của ngân hàng thương mại.
Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh ngân hàng có những đặc điểm sau: Một là, bảo lãnh là một mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau: Khi đồng ý bảo lãnh, ngân hàng phát hành thư bảo lãnh. Thư bảo lãnh là một hợp đồng giữa hai bên thường là ngân hàng và người thụ hưởng. Hợp đồng này độc lập trong mối quan hệ với hợp đồng cơ sở. Trong quan hệ bảo lãnh không chỉ là mối quan hệ giữa hai bên mà là mối quan hệ nhiều bên: Sơ đồ 1.
Mối quan hệ giữa các bên trong bảo lãnh Ngân hàng bảo lãnh (2) (3) (1) Người yêu cầu bảo lãnh Người thụ hưởng bảo lãnh (1) Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh: đây là mối quan hệ gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh, được thể hiện dưới dạng: hợp đồng mua bán, hợp đồng thi công, hồ sơ mời thầu, đơn dự thầu,. Trong mối quan hệ này, bên được bảo lãnh có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện cam kết đối với bên nhận bảo lãnh. (2) Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và ngân hàng thương mại bảo lãnh: Dựa vào quan hệ gốc giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh, ngân hàng thương mại phát hành cam kết bảo lãnh theo yêu cầu của bên được bảo lãnh. Mối quan hệ này thể hiện thông qua hợp đồng cấp bảo lãnh.
Đây là văn bản thỏa thuận giữa ngân hàng thương mại với bên được bảo lãnh và các bên liên quan (nếu có) về quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện bảo lãnh của ngân hàng thương mại. Bên được bảo 6 lãnh có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã trả thay khi ngân hàng phải thanh toán cho bên nhận bảo lãnh theo cam kết bảo lãnh. (3) Quan hệ giữa ngân hàng thương mại bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh: ngân hàng bảo lãnh có trách nhiệm thanh toán cho bên nhận bảo lãnh có trách nhiệm thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên được bảo lãnh vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Quan hệ này thể hiện thông qua cam kết bảo lãnh.
Cam kết bảo lãnh là văn bản của ngân hàng thương mại, được phát hành dưới dạng thư bảo lãnh hoặc hợp đồng bảo lãnh. Thư bảo lãnh: là cam kết đơn phương bằng văn bản của ngân hàng thương mại; còn Hợp đồng bảo lãnh: là thỏa thuận bằng văn bản giữa ngân hàng thương mại và bên nhận bảo lãnh, hoặc giữa ngân hàng thương mại, bên nhận bảo lãnh, bên được bảo lãnh và các bên liên quan, về việc ngân hàng thương mại sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Hai là, bảo lãnh có tính độc lập: Các bên trong từng trường hợp có quyền và nghĩa vụ riêng: - Ngân hàng, người cung cấp dịch vụ và cam kết thanh toán có hai mối quan hệ với hai đối tượng khác nhau và hoạt động độc lập trên cơ sở quyền và nghĩa vụ của từng hợp đồng. Trách nhiệm thanh toán của ngân hàng phát hành hoàn toàn độc lập với mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành với người được hưởng lợi chỉ như mối quan hệ trong hợp đồng cơ sở.
Ngân hàng không thể viện dẫn lí do thuộc về quan hệ giữa họ với người được bảo lãnh hay ngay khi có tranh chấp xảy ra từ hợp đồng cơ sở để trì hoãn thanh toán nếu như chứng từ người hưởng lợi xuất trình hoàn toàn phù hợp. - Người ủy nhiệm phải theo nguyên tắc “thanh toán trước khiếu kiện sau”, tức là phải thanh toán trong mối quan hệ với người bảo lãnh và với người hưởng thụ thì được khiếu nại nếu bị làm dụng. - Người hưởng được quyền đòi tiền trong mối quan hệ với người bảo lãnh nhưng họ có nghĩa vụ trả lời khiếu nại của đối tác nếu có tranh chấp phát sinh trong mối quan hệ của hợp đồng cơ sở. Như vậy tính độc lập của bảo lãnh thể hiện ở nghĩa vụ của người ủy nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của người bảo lãnh và quyền của người hưởng lợi qua các điều khoản của bảo lãnh.
Tuy nhiên, mức độ độc lập của bảo lãnh phụ thuộc vào chính các điều kiện của bảo lãnh, nếu là bảo lãnh vô điều kiện hay có điều kiện. Nếu là bảo lãnh vô điều kiện, việc thanh toán được thực hiện theo yêu cầu đầu tiên, tính độc lập được đảm bảo. 7 Ba là, bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng: Là một hình thức cấp tín dụng nhưng là tín dụng bằng chữ ký, ngân hàng cho khách hàng mượn uy tín của mình để tăng uy tín cho khách hàng khi vay vốn hoặc thực hiện các giao dịch khác. Khi phát hành thư bảo lãnh, ngân hàng chưa phải xuất tiền ngay, mà chỉ khi khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ của mình thì bên bảo lãnh mới thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Tuy nhiên, để theo dõi và quản lý rủi ro thì hoạt động bảo lãnh được đưa ra ngoại bảng để theo dõi. Khi ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình thì khoản tiền chi ra này được xếp vào nợ quá hạn và khoản bảo lãnh đó được chuyển vào nội bảng để quản lý. Chức năng của bảo lãnh Thứ nhất: Bảo lãnh có chức năng bảo đảm Chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh là cung cấp một sự bảo đảm cho người thụ hưởng. Mục đích của bảo lãnh là cung cấp cho người thụ hưởng một khoản bồi hoàn tài chính cho những thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng của người được bảo lãnh gây ra.
Theo thống kê của những nhà ngân hàng Mỹ thì chỉ có 1% trên tổng số bảo lãnh được phát hành ở Mỹ bị người thụ hưởng yêu cầu thanh toán. Hơn nữa, bảo lãnh được dùng trong những hợp đồng thi công, hợp đồng bảo hành sản phẩm,. thì đây là những thỏa thuận không mang tính mua bán hay thanh toán. Do vậy bảo lãnh chỉ được dùng cho mục đích bảo đảm an toàn cho người thụ hưởng khi có một biến cố vi phạm hợp đồng của người được bảo lãnh.
Thứ hai: Bảo lãnh có chức năng tài trợ Chức năng tài trợ của hoạt động bảo lãnh được thể hiện như sau: thông qua hoạt động bảo lãnh, người được bảo lãnh không phải xuất tiền; được vay vốn; được kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng, dịch vụ; tốc độ luân chuyển vốn nhanh do được thu hồi vốn nhanh chóng. Như vậy, ngân hàng không trực tiếp cho vay vốn nhưng nhờ việc phát hành thư bảo lãnh của ngân hàng mà khách hàng được hưởng những thuận lời về ngân quỹ, đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, làm giảm bớt sự căng thẳng về nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp. Thứ ba: Bảo lãnh là công cụ đôn đốc hoàn thành hợp đồng Người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán bảo lãnh khi người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng.