Chương I). + Đây là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nhưng tính chất mức độ nguy hiểm thấp hơn so với tội phạm nên chưa đến mức áp dụng biện pháp xử lý hình sự đối với những hành vi này. + Các hành vi vi phạm trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội nếu đã bị xử lý hành chính mà tiếp tục vi phạm (tái phạm) thì sẽ bị xem xét, truy cứu trách nhiệm đối với những hành vi này và chủ yếu liên quan đến các nhóm tội danh như : xâm phạm đến môi trường, xâm phạm đến quyền sở hữu; xâm phạm về trật tự quản lý kinh tế… Đây là quy định mang tính răn đe và có ý nghĩa quan trọng trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm. + Là những hành vi trái với quy định của pháp luật hành chính, xâm phạm trực tiếp đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ liên quan đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
13 + Hành vi này được cá nhân hoặc tổ chức thực hiện do lỗi cố ý hoặc vô ý. + Mức độ nguy hiểm của hành vi thấp hơn tội phạm và đây là dấu hiệu cơ bản nhất để phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm để trên cơ sở đó cơ quan có thẩm quyền áp dụng hình thức xử lý theo đúng quy định. Khái niệm xử lý vi phạm hành chính Để đưa ra được chính xác khái niệm của xử lý vi phạm hành chính cần hiểu rõ nội dung của các yếu tố cấu thành; cụ thể là XỬ phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính 1. Xử phạt vi phạm hành chính Theo khoản 1 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.” Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính có những đặc điểm cơ bản như sau: - Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Khi xác định được tính chất, hành vi, mức độ vi phạm của cá nhân, tổ chức thì sẽ tiến hành xử phạt theo đúng quy định. - Xử phạt vi phạm hành chính được Nhà nước giao cho các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thực hiện. Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản pháp luật khác có quy định về xử phạt vi phạm hành chính đã quy định cụ thể các chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, hình thức, mức độ xử phạt vi phạm hành chính được phép áp dụng với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính. - Xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành theo những nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
- Kết quả ghi nhận hoạt động xử phạt vi phạm hành chính chính là việc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong đó thể hiện các hình thức, biện pháp xử phạt áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính. Điều này thể hiện sự thượng tôn của pháp luật cũng như sự răn đe của Nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm. Mục đích quan trọng của việc xử phạt vi phạm hành chính 14 muốn hướng tới là giáo dục cho mọi người ý thức tuân thủ pháp luật hành chính nói riêng và pháp luật nói chung; nâng cao ý thức tôn trọng các quy tắc của đời sống cộng đồng, phòng ngừa các vi phạm pháp luật xảy ra. Biện pháp xử lý hành chính Tại khoản 3 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012: “Biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”; theo đó, biện pháp xử lý hành chính được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội (như cờ bạc, ma tuý, mại dâm, gây rối trật tự công cộng…) nhưng chưa đến mức phải xử lý hình sự.
Mục đích của các biện pháp này nhằm giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của đối tượng vi phạm, giáo dục và tạo điều kiện cho người vi phạm pháp luật trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội, ngăn ngừa khả năng tội phạm của họ. Cần lưu ý rằng, việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính có ảnh hưởng rất lớn đến quyền, tự do của đối tượng bị áp dụng nên Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có nhiều quy định mới so với các quy định trước đây về thẩm quyền quyết định áp dụng, đối tượng bị áp dụng, trình tự, thủ tục ra quyết định và thi hành quyết định cũng như một số vấn đề có liên quan khác. Từ những phân tích các nội dung nêu trên, có thể đưa ra khái niệm xử lý vi phạm hành chính như sau:“Xử lý vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền nhân danh Nhà nước, căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành để áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp xử lý hành chính đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định pháp luật hành chính”. Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội Như đã phân tích tại mục 1.2 của Đề án “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm tới các quy định của pháp luật quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự 15 và phải chịu xử phạt vi phạm hành chính theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật” và “Xử lý vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền nhân danh Nhà nước, căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành để áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp xử lý hành chính đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định pháp luật hành chính”.
Từ các khái niệm nêu trên, có thể đưa ra khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội như sau: Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền nhân danh Nhà nước, căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành để áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp xử lý hành chính đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định pháp luật trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Khái quát chung về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội của Công an cấp huyện 1. Đặc điểm của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội của Công an cấp huyện Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội là hoạt động công khai, minh bạch và được Nhà nước giao cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện; trong đó, có lực lượng Công an nhân dân. Đây là hoạt động nhằm mục đích phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của quần chúng Nhân dân, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Theo đó, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội có những đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội là những cá nhân có năng lực trách nhiệm hành chính hoặc tổ chức thực hiện một trong những hành vi vi phạm hành chính được quy định tại mục 1 Chương II Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Thứ hai, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã 16 hội là hoạt động chấp hành pháp luật, được tiến hành theo trình tự, thủ tục được quy định trong Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành. Kết quả xử lý vi phạm hành chính được thể hiện bằng các quyết định mang tính cá biệt nhưng có tính cưỡng chế bắt buộc đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm phải thực hiện. Thứ ba, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội còn là hoạt động cưỡng chế do các chủ thể, tức là các cá nhân có chức danh và có thẩm quyền thực hiện trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao nhằm góp phần đảm bảo sự ổn định trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Thứ tư, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội là công cụ quan trọng của hoạt động quản lý hành chính Nhà nước trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhằm duy trì trật tự kỷ cương thuộc phạm vi, chức năng của lực lượng Công an nhân dân - cánh tay phải đắc lực bảo vệ Đảng, nhằm đảm bảo an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.