CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan chung về hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp 1. Khái niệm, phân loại doanh nghiệp 1.
Khái niệm doanh nghiệp Có nhiều cách hiểu về doanh nghiệp, theo quy định tại điều 7, Luật Doanh nghiệp 2014 thì:“Doanh nghiệp là là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”[12]. Theo giáo trình Tài chính doanh nghiệp (Học viện tài chính): “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục tiêu sinh lời”[6,tr. Dựa trên khái niệm về doanh nghiệp, Đoàn Minh Tuấn (2015) đưa ra khái niệm về Doanh nghiệp thương mại dịch vụ: “Doanh nghiệp thương mại dịch vụ là một đơn vị kinh doanh được thành lập hợp pháp, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thương mại dịch vụ”[16,tr26]. Như vậy có thể hiểu Doanh nghiệp thương mại dịch vụ (DNTMVT) là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Hiện nay, đáp ứng yêu cầu của thị trường, các doanh nghiệp thường hoạt động theo hướng đa ngành nghề, đăng ký kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Chính vì vậy một doanh nghiệp được coi là “Doanh nghiệp thương mại dịch vụ nếu doanh nghiệp có doanh thu từ hoạt động thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng chủ đạo trong tổng doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ của một doanh nghiệp, tức là doanh thu từ hoạt động thương mại 4 dịch vụ chiếm tỷ trọng trên 50% tổng doanh thu thuần của doanh nghiệp”[16,tr. Phân loại doanh nghiệp Nhằm phục vụ cho những mục đích nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp thương mại-dịch vụ, các nhà phân tích có thể sử dụng nhiều cách phân loại khác nhau. Những cách phân loại cơ bản đó là: - Thứ nhất, xét theo quy mô doanh nghiệp có thể chia thành: + Một, Doanh nghiệp thương mại-dịch vụ quy mô lớn; + Hai, Doanh nghiệp thương mại-dịch vụ quy mô vừa; + Ba, Doanh nghiệp thương mại-dịch vụ quy mô nhỏ; + Bốn, Doanh nghiệp thương mại-dịch vụ quy mô siêu nhỏ.
Tiêu chí để phân biệt doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ tại các quốc gia khác nhau có những khác biệt nhất định. Tuy nhiên, đặc điểm chung đó là, các Doanh nghiệp quy mô lớn có trình độ tích tụ vốn lớn, có, có thể thu hút được lực lượng lao động có trình độ cao khả năng cạnh tranh mạnh, quy mô thị trường lớn. Trong khi đó, các Doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa thường có lượng nhân lực hạn chế, quy mô vốn nhỏ và quy mô về thị trường hạn chế. 1: Phân loại quy mô doanh nghiệp Tiêu chí DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa DN lớn Tổng Dưới 3 tỷ Từ 3 - 50 tỷ Từ 50 - 100 Từ trên 100 nguồn vốn đồng tỷ đồng tỷ đồng Tổng số Dưới 10 Từ trên 10 - Từ trên 50 - Từ trên 100 lao động người 50 lao động 100 lao động lao động Nguồn: Quy định tại Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 - Thứ hai, căn cứ vào tính chất của mặt hàng kinh doanh có thể chia thành: 5 • Một là: Doanh nghiệp kinh doanh chuyên môn hóa: đó là các doanh nghiệp chuyên kinh doanh một hoặc một số mặt hàng có cùng công dụng, trạng thái hoặc tính chất nhất định.
• Hai là: Các doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp: là các doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng có công dụng, trạng thái, tính chất khác nhau. • Ba là: Các doanh nghiệp kinh doanh đa dạng hóa (hỗn hợp): các doanh nghiệp kinh doanh cả sản xuất, cả kinh doanh hàng hóa và thực hiện các hoạt động dịch vụ thương mại - Thứ ba, Căn cứ theo chế độ sở hữu tư liệu sản xuất có thể chia thành • Doanh nghiệp nhà nước: là DN được nhà nước đầu tư hoặc cấp 100% vốn kinh doanh. • Doanh nghiệp tập thể: là DNmà vốn kinh doanh do tập thể người lao động tự nguyện góp vào để kinh doanh. • Các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh.
• Doanh nghiệp tư nhân: do các tư nhân trong nước và nước ngoài bỏ vốn kinh doanh. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động 1. Khái niệm vốn lưu động Về mặt khái niệm, vốn kinh doanh có thể được hiểu như sau: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”[11,tr. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bên cạnh TSCĐ doanh nghiệp còn phải có một lượng tài sản ngắn hạn (TSNH) nhất định.
Để hình thành nên các TSNH, doanh nghiệp phải ứng trước một số vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào các tài sản đó. Số vốn này được gọi là VLĐ của doanh 6 nghiệp, do đó: “VLĐ của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các TSNH nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục. VLĐ luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh”[11,tr. VLĐ có hình thức biểu hiện là các TSNH và được chia thành hai loại: TSNH phục vụ cho sản xuất và TSNH phục vụ lưu thông.
+ TSNH phục vụ cho sản xuất: bao gồm những vật tư dự trữ để đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục như nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu… và những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất như sản phẩm dở dang, bán thành phẩm… + TSNH phục vụ lưu thông: là những TSNH nằm trong quá trình lưu thông của doanh nghiệp như thành phẩm nằm trong kho chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán… Qua một chu kỳ sản xuất, kinh doanh vốn lưu động chuyển hoá thành nhiều hình thái khác nhau. Đầu tiên khi tham gia vào quá trình sản xuất vốn lưu động thể hiện dưới trạng thái sơ khai của mình là tiền tệ, qua các giai đoạn nó dần chuyển thành các sản phẩm dở dang hay bán thành phẩm. Giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động được chuyển hoá vào sản phẩm cuối cùng. Khi sản phẩm này được bán trên thị trường sẽ thu về tiền tệ hay hình thái ban đầu của vốn lưu động.
Chúng ta có thể mô tả trong chu trình sau: Mua vật tư Sản xuất Vốn bằng tiền Vốn dự trữ SX Vốn trong SX Hàng hoá sản phẩm Tiêu thụ sản phẩm 7 * Đặc điểm luân chuyển của VLĐ Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, do bị chi phối bởi các đặc điểm của TSNH nên VLĐ của doanh nghiệp có các đặc điểm sau: Thứ nhất, VLĐ trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện. Đối với doanh nghiệp sản xuất, hình thái biểu hiện của VLĐ là tiền - vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang - thành phẩm hàng hoá - tiền. Đối với doanh nghiệp thương mại, VLĐ có hình thái biểu hiện là tiền - hàng - tiền. Doanh nghiệp cần nắm rõ các hình thái biểu hiện này để có biện pháp quản lý VLĐ.
Thứ hai, VLĐ chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa VLĐ và VCĐ. Thứ ba, VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh. Đặc điểm này cho thấy kết thúc một chu kỳ kinh doanh cũng là lúc VLĐ trở lại hình thái tiền tệ ban đầu.
Đặc điểm của vốn lưu động có thể tóm tắt như sau: - Vốn lưu động lưu chuyển nhanh - Vốn lưu động dịch chuyển một lần vào quá trình sản xuất, kd - Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau khi hoàn thành một quá trình sản xuất kinh doanh Quá trình vận động của vốn lưu động là một chu kỳ khép kín từ hình thái này sang hình thái khác rồi trở về hình thái ban đầu với giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Chu kỳ vận động của vốn lưu động là cơ sở đánh giá khả năng thanh toán và hiệu quả sản xuất kinh doanh của, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Điều khác biệt lớn nhất giữa vốn lưu động và vốn cố định là: vốn cố định chuyển dần giá trị của nó vào sản phẩm thông qua mức khấu hao, còn vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị của nó vào giá trị sản phẩm theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh. 8 * Phân loại VLĐ Để thuận lợi cho việc quản lý VLĐ, người ta tiến hành phân loại VLĐ theo các cách sau: ✓ Dựa theo hình thái biểu hiện của vốn: - Vốn bằng tiền và các khoản phải thu: phần VLĐ này không được thể hiện dưới một lượng vật chất cụ thể mà chỉ biểu hiện dưới dạng nguồn lực.
Đây là phần VLĐ có tính thanh khoản cao mà doanh nghiệp cần có trong quá trình hoạt động kinh doanh. - Vốn về hàng tồn kho: được biểu hiện dưới hình thái vật chất cụ thể, bao gồm: vốn vật tư dự trữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm. Đây là bộ phận VLĐ có tính thanh khoản không cao do đó các doanh nghiệp cần có kế hoạch dự trữ hàng tồn kho hợp lý. ✓ Dựa vào vai trò của VLĐ đối với quá trình sản xuất kinh doanh: - VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất, bao gồm: vốn nguyên, vật liệu chính; vốn vật liệu phụ; vốn nhiên liệu; vốn phụ tùng thay thế; vốn vật đóng gói, vốn công cụ dụng cụ nhỏ.
- VLĐ trong khâu trực tiếp sản xuất, bao gồm: vốn sản phẩm đang chế tạo; vốn về chi phí trả trước. - VLĐ trong khâu lưu thông, bao gồm: vốn thành phẩm; vốn bằng tiền; vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn về chứng khoán, cho vay ngắn hạn… Mỗi cách phân loại trên đều đạt được yêu cầu nhất định trong công tác quản lý và sử dụng VLĐ. Nó giúp doanh nghiệp xác định đúng trọng điểm và biện pháp quản lý, sử dụng VLĐ hiệu quả hơn, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp. Tóm lại, từ đặc điểm của VCĐ và VLĐ đòi hỏi công tác quản lý vốn của doanh nghiệp phải được quan tâm.