CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 VỐN VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP.1 Khái niệm, đặc trưng vốn kinh doanh 1.1 Khái niệm vốn kinh doanh Như chúng ta đã biết, bất kì một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường (KTTT) đều cần có một lượng vốn nhất định. Đứng trên mỗi góc độ và quan điểm khác nhau, với mục đích nghiên cứu khách nhau thì có những quan niệm khác nhau về vốn. Theo quan điểm của Mark – nhìn dưới giác độ của các yếu tố sản xuất thì “Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”. Tuy nhiên Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế.
Đây là một hạn chế trong quan điểm của Mark. Cách hiểu này phù hợp với nền kinh tế sơ khai – giai đoạn kinh tế học mới xuất hiện và phát triển. Sau Mark các nhà kinh tế học đại diện cho các trường phái kinh tế khác nhau đã đưa ra nhiều quan điểm về vốn. Trong các quan điểm đó phải kể đến quan điểm về vốn của P.Samuelson và của D.A Samuelson: “Vốn là hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”( Kinh Tế Học Tập 1- 1989)[13, Trang 60] Trong quan niệm của mình về vốn, Samuelson không đề cập đến các tài sản tài chính, những tài sản có giá có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, ông đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp.
Khác với Samuelson, theo cuốn “Kinh tế học” của David Begg cho rằng: “Vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo. Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính. Luan van 8 Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá và dịch vụ khác. Vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá trị của doanh nghiệp.
Nhìn chung, các nhà kinh tế đã thống nhất ở điểm chung cơ bản; Vốn là yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho thị trường. Như vậy, vốn kinh doanh (VKD) có thể hiểu như sau: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời” (Giáo trình Kinh tế học – 2008) [8, Trang 38].2 Đặc trưng của vốn kinh doanh Để quản lý và sử dụng hiệu quả VKD đòi hỏi doanh nghiệp (DN) phải nhận thức đúng đắn và đầy đủ các đặc trưng cơ bản của vốn, bao gồm: - Vốn được biểu hiện bằng một lượng tài sản có thực. Đây là đặc trưng rất cơ bản của VKD - vốn là một lượng tiền tệ đại diện cho một lượng hàng hóa nhất định, một tài sản có thực. Nói cách khác, vốn là biểu hiện bằng giá trị của các tài sản trong doanh nghiệp.
Đó có thể là tài sản hữu hình như: Các loại máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu… hay tài sản vô hình như : Vị trí kinh doanh, nhãn hiệu sản phẩm, bản quyền phát minh… - Vốn phải được tích tụ, tập trung thành một lượng nhất định, đủ sức đầu tư vào một phương án kinh doanh. Để tiến hành bất kỳ hoạt động SXKD nào đều cần phải có một lượng vốn tối thiểu nhất định. Trong quá trình SXKD, các doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn sẵn có mà còn phải tìm cách thu hút vốn, huy động thêm vốn từ các nguồn bên ngoài; như vậy vừa có thể giúp doanh nghiệp khuyếch đại tỷ suất lợi nhuận vốn chủ mà còn có thể giúp doanh nghiệp phân chia được rủi ro trong quá trình SXKD. - Vốn phải vận động sinh lời.
Luan van 9 Đặc trưng này của vốn xuất phát từ nguyên tắc: tiền tệ chỉ được coi là vốn khi chúng được đưa vào SXKD, chúng vận động biến đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm khởi đầu và điểm kết thúc của vòng tuần hoàn phải là tiền, lượng tiền thu về phải lớn hơn lượng tiền bỏ ra - tức là kinh doanh phải có lãi. - Vốn có giá trị về mặt thời gian. Trong điều kiện nền KTTT, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như giá cả, lạm phát, khủng hoảng…mà giá trị của một đồng vốn ở những thời điểm khác nhau là khác nhau. Cùng một lượng tiền bỏ ra nhưng lượng hàng hóa mà nó mua được của ngày hôm sau có thể ít hơn ngày hôm trước.
Vì vậy, khi xem xét, quyết định đầu tư, doanh nghiệp luôn phải chú ý tới giá trị thời gian của đồng vốn. - Vốn gắn liền với chủ sở hữu. Đồng vốn vô chủ sẽ dẫn đến việc sử dụng vốn lãng phí, kém hiệu quả. Ngược lại, những đồng vốn gắn liền với chủ sở hữu, gắn với lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu thì sẽ được sử dụng đúng mục đích, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả và sinh lời.
Có thể người sử dụng vốn không phải là người chủ sở hữu đồng vốn nhưng nó vẫn có chủ sở hữu nhất định. Người chủ sở hữu này đặt ra yêu cầu phải sử dụng đồng vốn có hiệu quả. - Vốn được coi như một loại hàng hóa đặc biệt. Trong nền kinh tế thị trường, tại một thời điểm, có những chủ thể tạm thời thừa vốn và có những chủ thể tạm thời thiếu vốn.
Những người có vốn nhàn rỗi sẽ đưa vốn vào thị trường, còn những người có nhu cầu về vốn sẽ có thể mua “quyền sử dụng vốn” và trả cho người bán một lượng tiền tệ nhất định là “chi phí sử dụng vốn”. Như vậy, khác với các hàng hóa thông thường, vốn khi “bán ra” sẽ không bị mất đi quyền sở hữu mà chỉ mất đi quyền sử dụng. Đây là đặc trưng quan trọng giúp cho các doanh nghiệp có khả năng huy động vốn linh hoạt trong nền KTTT. - VKD bao gồm cả giá trị của tài sản vô hình.
Tại một thời điểm, vốn có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Vốn không chỉ là biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà của cả các tài sản vô hình. Đặc trưng này giúp cho doanh nghiệp có sự nhìn nhận toàn diện về VKD, từ đó đề xuất các biện pháp phát huy hiệu quả tổng hợp của VKD.2 Phân loại vốn kinh doanh Việc phân loại vốn kinh doanh hợp lý giúp cho doanh nghiệp trong việc bố trí, sử dụng vốn một cách tốt nhất. Tùy thuộc vào đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh mà lựa chọn các tiêu thức phân loại khác nhau.
Dưới đây là các cách phân loại chủ yếu: 1.1 Theo đặc điểm chu chuyển vốn Dựa trên tiêu thức này, vốn kinh doanh được chia làm hai loại: Vốn cố định và Vốn lưu động. Vốn cố định của Doanh nghiệp Vốn cố định là lượng vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên TSCĐ của Doanh nghiệp. Quy mô của vốn cố định sẽ quyết định đến lượng TSCĐ được hình thành và ngược lại, đặc điểm luân chuyển của TSCĐ sẽ chi phối đặc điểm luân chuyển của vốn cố định. Từ mối liên hệ này, ta có thể khái quát những đặc thù của vốn cố định như sau: Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Đặc điểm này là do TSCĐ tham gia và phát huy tác dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất. Vì vậy, vốn cố định là hình thái biểu hiện bằng tiền của TSCĐ và cũng tham gia vào các chu kỳ sản xuất tương ứng. Vốn cố định được dịch chuyển giá trị dần, từng phần trong các chu kỳ sản xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, TSCĐ không bị thay đổi hình thái hiện vật ban đầu nhưng tính năng và công suất của nó bị giảm dần, tức là nó bị hao mòn, và cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng thì giá trị của nó cũng bị giảm đi, theo đó vốn cố định được tách thành hai bộ phận: - Bộ phận thứ nhất tương ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao và được tích lũy lại thành quỹ khấu hao.
Quỹ khấu hao này sẽ được sử dụng để tái sản xuất TSCĐ nhằm duy trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp. - Phần còn lại của vốn cố định vẫn được “Cố định” trong TSCĐ, tức là giá trị còn lại của tài sản cố định. Hình thái hiện vật của vốn cố định là tài sản cố định. Luan van 11 Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn được luân chuyển vào giá trị sản phẩm phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ lại dần dần giảm xuống.
Kết thúc quá trình vận động đó cũng là lúc TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó được chuyển dịch vào giá trị sản phẩm đã sản xuất và khi đó vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Vốn cố định có chu kỳ vận động dài, sau nhiều năm mới có thể thu hồi đủ số vốn đầu tư đã ứng ra ban đầu. Trong thời gian dài như vậy, đồng vốn sẽ luôn bị đe dọa bởi những rủi ro, những nguyên nhân chủ quan và khách quan làm thất thoát vốn như: - Do kinh doanh kém hiệu quả, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, do giá bán thấp hơn giá thành nên thu nhập không đủ bù đắp mức độ hao mòn TSCĐ. - Do sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho mức độ hao mòn vô hình của TSCĐ vượt quá mức dự kiến về mặt hiện vật cũng như về mặt giá trị.
- Do yếu tố lạm phát trong nền kinh tế. Khi lạm phát xảy ra giá trị thực của đồng vốn bị thay đổi, do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải đánh giá và điều chỉnh lại giá trị tài sản để tránh tình trạng mất vốn kinh doanh theo tốc độ lạm phát trên thị trường. Vốn cố định hoàn thành một vòng luân chuyển sau nhiều chu kỳ kinh doanh. Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong toàn bộ vốn sản xuất kinh doanh.
Quy mô của vốn cố định và trình độ quản lý sử dụng nó là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến trình độ trang bị kỹ thuật của sản xuất kinh doanh.