Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài: “ Hoàn thiện trả công tại công ty CP Tư vấn đầu tư xây dựng công trình giao thông 1 – CIENCO1”. Chương 2: Một số vấn đề lý luận về trả công lao động trong doanh nghiệp. Chương 3: Thực trạng công tác trả công lao động tại công ty cổ phần Tư vấn đầu tư xây dựng công trình giao thông 1 – CIENCO1. Chương 4: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác trả công lao động tại công ty cổ phần Tư vấn đầu tư xây dựng công trình giao thông 1 – CIENCO1.
SVTH: Nguyễn Thị Dung 7 GVHD: Th.S Trịnh Minh Đức Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Quản tri nhân lực CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRẢ CÔNG LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 2. Khái niệm, vai trò của trả công lao động 2. Khái niệm quản trị nhân lực Quản trị là hoạt động nhằm đạt được mục tiêu một cách có hiệu quả bằng phối hợp các hoạt động của những người khác thông qua hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát.Vấn đề quản trị có sự phối hợp giữa tính khoa học và nghệ thuật lãnh đạo.Về phương diện khoa học, người quản trị thành công làn gười nắm vững các kiến thức và kỹ năng quản trị. Về phương diện nghệ thuật, người quản trị thành công là người có các năng lực bẩm sinh như thông minh, có tài thuyết phục, lôi cuốn người khác làm theo, có khả năng mau chóng nắm bắt vấn đề và ra quyết định, dễ hòa hợp với mọi người, tự tin, linh hoạt xử lý các tình huống trong thực tế, …(Williams.Mc Graw Hll Irwin, 2006).
Theo Bùi Văn Nhơn (2006) thì: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”. Theo Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2004) thì khái niệm này được hiểu như sau: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”. Như vậy, quản trị nhân lực (Human Resource Management) liên quan đến hai vấn đề cơ bản là “Quản trị” và “Nhân lực”. Quản trị nhân lực là tổng hợp những hoạt động quản trị liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả yếu tố con người trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp (Hoàng Văn Hải, Vũ Thùy Dương, 2012).
Như vậy, khái niệm quản trị nhân lực là quản trị con người thông quaphân tích công việc, hoạch định nhân lực, tuyển dụng nhân lực, tổ chức và định mức lao động, đào tạo và phát triển nhân lực, đánh giá nhân lực, đãi ngộ nhân lực, quan hệ lao động nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp trong hiện tại cũng như trong tương lai. Trả công lao động Theo quan điểm của Jean Marie Perretti (2004) thì “ Sự trả công được hiểu là tiền lương hoặc lương tổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, phụ khoản khác, được trả SVTH: Nguyễn Thị Dung 8 GVHD: Th.S Trịnh Minh Đức Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Quản tri nhân lực trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vật mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của người lao động”. Theo Paul Thompson (2004), “trả công lao động không chỉ bao gồm những yếu tố đãi ngộ tài chính thông thường như lương cơ bản và các khoản tiền khác mà người lao động nhận được. Trả công lao động bao gồm cả các yếu tố đãi ngộ phi tài chính như cơ hội nghề nghiệp, cơ hội tự khẳng định mình, cơ hội học tập và bồi dưỡng cũng như chất lượng công việc”.
Hà Văn Hội (2007), “ Trả công lao động là quá trình tổ chức, doanh nghiệp (người sử dụng lao động) thực hiện việc chi trả tiền công và các đãi ngộ khác cho người lao động theo thỏa thuận của hai bên trên cơ sở quy định của pháp luật”. Như vậy, chúng ta có thể hiểu, trả công lao động là quá trình tổ chức, doanh nghiệp cung cấp những lợi ích cho người lao động thông qua các hình thức tài chính (lương, thưởng, trợ cấp, phụ cấp, phúc lợi,…) và các hình thức phi tài chính. Vai trò của trả công lao động Theo TS. Lê Quân (2008), trả công lao động có các vai trò như sau: Thứ nhất, trả công lao động ảnh hưởng đến sự công bằng của tổ chức.
Người lao động có thói quen so sánh những gì mà họ nhận được với đóng góp mà họ bỏ ra. Do vậy trả công lao động sẽ ảnh hưởng đến sự tham gia của người lao động và các hoạt động của doanh nghiệp. Thứ hai, trả công lao động đóng vai trò là công cụ đòn bẩy tạo động lực làm việc cho người lao động. Theo lý thuyết động viên, sẽ có 2 xu hướng làm việc của người lao động: (1) làm việc theo những ràng buộc của hợp đồng lao động; (2) làm việc nhằm đạt được những mục tiêu của bản thân.
Trong nền kinh tế thị trường, rõ ràng xu hướng 2 chiếm vị trí chủ đạo. Thứ ba, trả công lao động ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển năng lực của nhân viên. Trong bối cảnh cạnh tranh, các doanh nghiệp cần phải sử dụng công cụ trả công lao động để kích thích người lao động vượt qua thử thách và sáng tạo, thay đổi. Thứ tư, trả công lao động thông qua môi trường làm việc và thông qua công việc không chỉ đơn thuần là năng cao chất lượng môi trường làm việc mà còn nâng cao nỗ lực phấn đấu của từng người lao động.
Nội dung trả công lao động 2. Các hình thức trả công lao động Theo PGS.TS Hoàng Văn Hải, ThS. Vũ Thùy Dương (2012), trả công lao động bao gồm các hình thức tài chính và phi tài chính sau: SVTH: Nguyễn Thị Dung 9 GVHD: Th.S Trịnh Minh Đức Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Quản tri nhân lực 2.Các hình thức tài chính Tiền lương Tiền lương là một hình thức trả công tài chính quan trọng nhất. Lương là số tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã hao phí trong quá trình thực hiện những công việc được giao.
Tiền lương cơ bản được xác định trên cơ sở tính đủ các như cầu cơ bản về độ phức tạp và mức tiêu hao sức lao động trong những điều kiện lao động trung bình của từng ngành nghề, công việc. Tiền lương giúp người lao động có phương tiện để thỏa mãn các như cầu sinh hoạt của bản thân cũng như gia đình của họ, và do vậy tiền lương trở thành một động lực rất lớn trong việc thúc đẩy người lao động hoàn thành các chức trách được giao. Con người khi làm việc luôn muốn nhận được một mức lương nào đó tương xứng với năng lực của bản thân.Khi mới được tuyển dụng, họ có thể chấp nhận mức lương thấp mà không có ý kiến gì vì để có thể được tuyển dụng và có việc làm. Tuy vậy, các nhà quản trị cần biết rằng, nếu người lao động chưa đạt được mức lương mong muốn thì khó có thể phát huy tối đa năng lực của mình.
Chính vì vậy, cần trả lương đầy đủ cho người lao động bằng cách tăng lương khi thấy xứng đáng chứ không cần phải đợi người lao động có dấu hiệu đòi hỏi. Trong thực tiễn hiện nay các doanh nghiệp thường áp dụng một hoặc hai hình thức trả lương: theo thời gian và theo sản phẩm. Trả lương theo thời gian: Tiền lương theo thời gian là tiền lương thanh toán cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc và trình độ chuyên môn của họ. Trả lương theo sản phẩm: Trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương căn cứ vào số lượng và chất lượng sản phẩm mà người lao động tạo ra và đơn giá tiền lương theo sản phẩm để trả lương cho người lao động.
Tiền thưởng Là những khoản tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động do họ có những thành tích và đóng góp vượt trên mức độ mà chức trách quy định. Tiền thưởng cùng với tiền lương tạo nên thu nhập bằng tiền chủ yếu của người lao động. Vì vậy, tiền thưởng cũng góp phần giúp người lao động thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của bản thân và gia đình ở mức độ cao hơn. Từ đó có thể thấy, tiền thưởng là một công cụ khuyến khích vật chất có hiệu quả nhất đối với người lao động, nhất là những người còn tiềm ẩn nhiều năng lực làm việc.
Tiền thưởng có nhiều loại, bao gồm: Thưởng năng suất, chất lượng tốt; thưởng do tiết kiệm vật tư, nguyên liệu; thưởng do sáng kiến, cải tiến kỹ thuật; thưởng theo kết quả hoạt động kinh doanh… SVTH: Nguyễn Thị Dung 10 GVHD: Th.S Trịnh Minh Đức Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Quản tri nhân lực Phụ cấp Phụ cấp là một khoản tiền được trả thêm cho người lao động do họ đảm nhận thêm trách nhiệm hoặc làm việc trong các điều kiện không bình thường. Phụ cấp có tác dụng tạo ra sự công bằng về đãi ngộ thực tế. Doanh nghiệp có thể có các loại phụ cấp: Phụ cấp trách nhiệm công việc, phụ cấp độc hại, nguy hiểm, phụ cấp khu vực và phụ cấp thu hút, phụ cấp lưu động. Trợ cấp Trợ cấp được thực hiện nhằm giúp nhân lực khắc phục được các khó khăn phát sinh do hoàn cảnh cụ thể.
Vì vậy, nếu có nhu cầu trợ cấp thì doanh nghiệp mới chi trả. Trợ cấp có nhiều loại khác nhau như: trợ cấp y tế, trợ cấp giáo dục, trợ cấp đi lại, trợ cấp nhà ở, trợ cấp đắt đỏ, trợ cấp xa nhà… Cổ phần Cổ phần là công cụ trả công lao động nhằm làm cho người lao động gắn bó lâu dài với với doanh nghiệp cũng như nâng cao tinh thần trách nhiệm của họ dối với doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thường sử dụngcông cụ này dưới dạng quyền ưu tiên mua cổ phần và chia cổ phần cho người lao động. Phúc lợi Phúc lợi được cung cấp cho người lao động để họ có thêm điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống và sinh hoạt của gia đình.
Phúc lợi có hai phần chính: Phúc lợi theo quy định của pháp luật và phúc lợi do các doanh nghiệp tự nguyện áp dụng. Phúc lợi theo quy định của Pháp luật do Nhà nước quy đinh nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động ở mức tối thiểu do họ ở vào thế yếu hơn so với người sử dụng lao động.