CHƯƠNG 1 :CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ƯU ĐÃI TRONG CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1.1 Nghèo đói và sự cần thiết phải giảm nghèo 1.1 Khái niệm về nghèo đói.1 Khái niệm nghèo Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về nghèo tùy theo quan điểm, mục đích nghiên cứu của mỗi tác giả và mục tiêu nhằm giải quyết vấn đề đói nghèo, dựa trên bản chất mối quan hệ giữa con người với con người, con người với xã hội, quan điểm của các chính phủ, của các định chế quốc tế như Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế hay Liên hiệp quốc về các khía cạnh khác nhau của đói nghèo. - “Khái niệm nghèo được biến đổi theo thời gian. Trước đây, nghèo vẫn thường được xem là chỉ liên quan đến thu nhập, ngày nay nó được nhìn nhận như một khái niệm đa cấp bắt nguồn và gắn chặt với chính trị, địa lý, lịch sử, văn hóa và các đặc điểm xã hội. Ở những nước đang phát triển, nghèo rất phổ biến và được biểu hiện ở những vấn đề như đói, thiếu đất và nguồn sinh kế, chính sách tái phân bổ không hiệu quả, thất nghiệp, mù chữ, dịch bệnh, thiếu dịch vụ y tế và nước sạch an toàn.
Ở những nước phát triển, nghèo được thể hiện dưới dạng loại trừ khỏi xã hội, thất nghiệp gia tăng và lương thấp”(Wolfgang Benedek, 2006, trang 13) - Theo Báo cáo phát triển con người của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc năm 1997có một vài khái niệm về nghèo như sau: “Nghèo có nghĩa là cơ hội và lựa chọn cơ bản nhất để phát triển con người bị từ chối” ; “Nghèo có nghĩa là không bao giờ có đủ ăn” (UNDP ,1997, p15-16) Liên Hiệp Quốc đã định nghĩa nghèo như sau: “Đặc trưng bởi tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng các nhu cầu cơ bản của con người, bao gồm thực phẩm, nước uống an toàn, công trình vệ sinh, y tế, chỗ ở, giáo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 dục và thông tin. Nó phụ thuộc không chỉ vào thu nhập mà còn tiếp cận với các dịch vụ” (UN,1995, p57). Ngân hàng Thế giới định nghĩa “nghèo là không có khả năng để đạt được một tiêu chuẩn tối thiểu của cuộc sống” (World Bank, 1990, p.26) Để phục vụ cho công tác nghiên cứu và thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, theo Chiến lược xóa đói giảm nghèo năm 20021 Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống nghèo đói khu vực châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP2 tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan (tháng 9/1993) đã đưa ra định nghĩa như sau: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương. Tuy nhiên, theo khái niệm này không có chuẩn nghèo3 chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia và nó thay đổi theo thời gian và không gian.
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen - Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo như sau: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại". Bản thân khái niệm nghèo nó cũng bao hàm mức độ nghèo khác nhau, vì trong các nhóm dân cư có người thuộc nhóm nghèo nhưng chưa phải nghèo nhất trong xã hội mà bị rơi vào tình trạng đói kém, do đó, với cách tiếp cận khác nhau về tình trạng thiếu thốn sẽ phân biệt ngưỡng nghèo khác nhau. 1 Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt tại Văn bản số 2685/VPCP-QHQT, ngày 21 tháng 5 năm 2002 2 Economic and Social Commission for Asia and Pacifíc : Ủy ban kinh tế xã hội châu Á và Thái Bình Dương 3 Chuẩn nghèo được phân tích trong phần 1.3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Nghèo được nhận diện trên 2 khía cạnh: nghèo tuyệt đối (Absolute Poverty) và nghèo tương đối (Relative Poverty). - Theo Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế Giới, đã đưa ra khái niệm Nghèo tuyệt đối: "Nghèo tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại.
Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới tri thức chúng ta". “ Nghèo tương đối: có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó” (Nghèo, [online] http://vi.org/wiki/Ngheo) Để xác định nghèo tuyệt đối người ta thiết lập chuẩn nghèo ở một số tiền nhất định hoặc thu nhập có được để chi tiêu cho mỗi ngày dựa trên giá trị ước tính cho một rổ hàng hóa4 tối thiểu cần thiết cho cuộc sống. Khái niệm về đói. Đói là một khái niệm biểu đạt tình trạng con người ăn không đủ no, không đủ năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày do đó không đủ sức để lao động và tái sản xuất sức lao động.
Hộ đói: “là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái thất học, ốm đau không có tiền chữa trị, nhà ở rách nát”5 1.2 Khái niệm về xóa đói, giảm nghèo. Khái niệm về xóa đói. Xóa đói là làm cho bộ phận dân cư nghèo sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì mức sống, từng bước nâng cao mức 4 Rổ hàng hóa bao gồm các nhu yếu phẩm hàng ngày như thức ăn, chổ ở, điện, nước sinh hoạt… 5 Chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998 – 2000 được Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg ngày 23 tháng 07 năm 1998 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 sống đến mức tối thiểu và có thu nhập đủ để đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống (Nguyễn Thị Hoa, 2009) 1. Khái niệm về giảm nghèo.
Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Điều này được thể hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. Hay giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo lên mức sống cao hơn. Sự thống nhất giữa hai mục tiêu này: Nếu giảm nghèo đạt được mục tiêu thì đồng thời cũng xóa đói luôn.
Do vậy thực chất giảm nghèo và xóa đói là đồng nghĩa.3 Chuẩn nghèo Tính đến nay trên thế giới có hai phương pháp cơ bản để xác định chuẩn nghèo, đó là phương pháp dựa vào nhu cầu chi tiêu của con người để bảo đảm mức sống tối thiểu của một con người và phương pháp dựa vào thu nhập để bảo đảm mức sống tối thiểu. Tuy nhiên, chuẩn nghèo không phải là một đại lượng cố định mà nó luôn biến động theo thời gian và không gian, tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng quốc gia.1 Chuẩn nghèo của quốc tế. Từ năm 1985, Ngân hàng thế giới xem thu nhập 1 USD/ngày/người để thỏa mãn nhu cầu sống tối thiểu như là chuẩn tổng quát cho nghèo đói toàn cầu (WB, 2004). Khi đánh giá theo sức mua tương đương (PPP)6 của đồng tiền nội địa so với đô la Mỹ, chuẩn nghèo 1993 có hiệu lực từ Chương trình So sánh Quốc tế, chuẩn nghèo 6 PPP (Purchasing Power Parity) Là một lý thuyết kinh tế và kỹ thuật được sử dụng để xác định tương đối giá trị của đồng tiền, ước tính số lượng điều chỉnh cần thiết về tỷ giá hối đoái giữa các nước để trao đổi tương đương (hoặc ngang) mỗi tiền tệ của sức mua.
Số tiền cần thiết để mua các hàng hóa và dịch vụ ở hai nước, và sử dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 quốc tế đã được đánh giá lại. Áp dụng nguyên tắc tương tự và sử dụng các thiết lập ban đầu của chuẩn nghèo quốc gia, các chuẩn nghèo tương đương năm 1993, PPP xác định được là 1,08 $/ ngày/người (hoặc 32,74$/một tháng/người) theo giá cả năm 1993. Chuẩn này là trung bình của 10 chuẩn nghèo đói thấp nhất trong cùng một tập hợp của các nước sử dụng (Ravallion, Datt, and van de Walle, 1991). Kết quả đánh giá lại này lần đầu tiên được công bố trong Báo cáo Phát triển Thế giới: Tấn công nghèo đói (WB, 2000) và chỉ số Phát triển Thế giới (2001).
Những chỉ số Phát triển Thế giới bổ sung năm 2008 đã cung cấp các ước tính chuẩn nghèo đói toàn cầu, một đánh giá đầu tiên của Ngân hàng Thế giới là "1 đô la/ngày/người" chuẩn nghèo từ năm 1999. Chuẩn nghèo quốc tế đã được đánh giá lại là 1,25/ngày/người, bằng cách sử dụng dữ liệu mới trên sức mua tương đương (PPP), được thực hiện bởi Chương trình So sánh Quốc tế, và thiết lập một cuộc điều tra7 mở rộng về thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình. Các đo lường mới về mức độ và chiều sâu của đói nghèo được khảo sát ở 115 quốc gia phát triển, cùng với các phép đo về nghèo dựa trên chuẩn nghèo quốc gia của họ. Chuẩn nghèo 1,25 đô la / ngày thực hiện năm 2005 thay thế cho chuẩn nghèo $ 1,08/ ngày theo giá năm 1993.
Thường được mô tả như "1đôla/ngày/người” hay" 1,08 đôla/ngày/người” đã được chấp nhận rộng rãi như là tiêu chuẩn quốc tế đối với nghèo tuyệt đối và được thành lập đầu tiên của các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ8. Mục đó để tính toán một tỷ giá hối đoái ngầm nước ngoài. Một khoản tiền như vậy, có sức mua tương tự ở các quốc gia khác nhau. 7 Để chuyển đổi giá trị danh nghĩa của chuẩn nghèo được đo bằng tiền tệ khác nhau cho một đơn vị phổ biến trong tính toán, Ngân hàng Thế giới sử dụng sức mua tương đương (PPPs) từ năm 2005 của Chương trình So sánh Quốc tế, đã khảo sát giá ở 146 quốc gia.
8 còn gọi là Mục tiêu Thiên niên kỷ là 8 mục tiêu được 189 quốc gia thành viên Liên hợp quốc nhất trí phấn đấu đạt được vào năm 2015.