Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả tín dụng hộ nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội. Chương 2: Thực trạng hiệu quả tín dụng hộ nghèo tại Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng hộ nghèo tại Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.
Cơ sở lý luận về đói nghèo 1. Khái niệm đói nghèo trên thế giới Tại Hội nghị bàn về công tác XĐGN do ESCAP tổ chức tại Bang Kok Thái Lan vào tháng 9 năm 1993 đã đƣa ra khái niệm về nghèo đói nhƣ sau: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thoả mãn nhu cầu cơ bản của con ngƣời đã đƣợc xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển KT- XH và phong tục tập quán của từng địa phƣơng” (Phùng Đức Tùng, 2000; Giang Thanh Long, 2009). Hội nghị Thƣợng đỉnh thế giới về Phát triển xã hội ở Copenhaghen, Đan Mạch năm 1995 đã đƣa ra khái niệm về ngƣời nghèo nhƣ sau: “Ngƣời nghèo là tất cả những ai có thu nhập thấp hơn dƣới 1 USD mỗi ngày cho mỗi ngƣời, số tiền đƣợc coi nhƣ đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Ngân hàng thế giới (WB) cũng đƣa ra khái niệm về đói nghèo là: “Đói nghèo là sự thiếu hụt không thể chấp nhận đƣợc trong phúc lợi xã hội của con ngƣời, bao gồm cả khía cạnh sinh lý học và xã hội học” (Phùng Đức Tùng, 2000; Giang Thanh Long, 2009).
Sự thiếu hụt về sinh lý học là không đáp ứng đủ nhu cầu về vật chất và sinh học nhƣ dinh dƣỡng, sức khoẻ, giáo dục và nhà ở. Sự thiếu hụt về mặt xã hội học liên quan đến các vấn đề nhƣ bình đẳng, rủi ro và đƣợc tự chủ, tôn trọng trong xã hội. Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đã đƣa ra 2 khái niệm Đói và Nghèo nhƣ sau: - Khái niệm đói: “Đói là tình trạng một bộ phận dân cƣ có mức sống dƣới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo cho nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cƣ hàng năm thiếu ăn, thƣờng vay nợ cộng đồng và thiếu khả năng chi trả”.
- Khái niệm nghèo: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ không có khả năng thoả mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phƣơng diện” (Phùng Đức Tùng, 2000; Giang Thanh Long, 2009). 1 Từ những nhận định của nhiều tổ chức trên chúng ta thấy rằng đói nghèo là hiện tƣợng KT- XH mang tính chất toàn cầu. Nó không chỉ tồn tại ở những quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà nó còn tồn tại ngay tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà tính chất, mức độ nghèo đói của từng quốc gia có khác nhau.
Khái niệm đói nghèo ở Việt Nam Việt Nam đã nhận thức đƣợc tầm quan trọng trong công tác XĐGN do đó, thời gian qua chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong hoạt động này cả về mặt lý luận và thực tiễn trong đó việc thống nhất khái niệm đói nghèo của Việt Nam cũng đƣợc xác định: Chúng ta đã thừa nhận khái niệm chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thoả mãn nhu cầu cơ bản của con ngƣời đã đƣợc xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển KT- XH và phong tục tập quán của từng địa phƣơng” (Phùng Đức Tùng, 2000; Giang Thanh Long, 2009). Đói nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phƣơng diện nhƣ: Thu nhập: Đa số những ngƣời nghèo có cuộc sống rất khó khăn, cực khổ, có mức thu nhập thấp. Ngƣời nghèo thƣờng làm những công việc đơn giản, lao động chân tay nhiều, công việc cực nhọc nhƣng thu nhập chẳng đƣợc là bao. Hơn thế nữa, những công việc này lại thƣờng rất bấp bênh, không ổn định, nhiều công việc phụ thuộc vào thời vụ và có tính rủi ro cao do liên quan nhiều đến thời tiết (chẳng hạn nhƣ mƣa, nắng, lũ lụt, hạn hán, động đất.
Các nghề thuộc về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngƣ nghiệp là những ví dụ cho vấn đề này. Do thu nhập thấp nên việc chi tiêu cho cuộc sống của những ngƣời nghèo là rất hạn chế. Hầu hết các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con ngƣời nhƣ cái ăn, cái mặc, chỗ ở chỉ đƣợc đáp ứng với mức độ rất thấp, thậm chí còn không đủ. Nhiều ngƣời rơi vào cảnh thiếu ăn liên miên: chƣa nói đến vấn đề đủ dinh dƣỡng, riêng việc đáp ứng lƣợng calo cần thiết, tối thiểu cho con ngƣời để có thể duy trì hoạt động sống bình thƣờng họ cũng chƣa đáp ứng đƣợc, hoặc đáp ứng một cách khó khăn.
Điều này đã kéo theo hàng loạt các vấn đề khác nhƣ làm giảm sức khoẻ của ngƣời nghèo, do đó giảm năng suất lao động, từ đó giảm thu nhập. cứ nhƣ thế, nó đã tạo nên vòng luẩn quẩn mà ngƣời nghèo rất khó thoát ra đƣợc. 1 Y tế - giáo dục: Những ngƣời nghèo có nguy cơ mắc phải các bệnh thông thƣờng cao nhƣ ốm đau, các bệnh về đƣờng giao tiếp, tình trạng sức khoẻ không đƣợc tốt do ăn uống không đảm bảo, lao động cực nhọc. Ngƣời nghèo thƣờng sống ở những vùng có điều kiện vệ sinh, y tế thấp, còn nhiều hạn chế, chẳng hạn, họ không đƣợc sử dụng nguồn nƣớc sạch, không có công trình phụ hợp vệ sinh, điều này cũng làm giảm đáng kể sức khoẻ của họ.
Nó đã dẫn đến tình trạng tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh trong nhóm hộ nghèo, số trẻ bị suy dinh dƣỡng và số bà mẹ mang thai thiếu máu rất cao. Có điều này là do ngƣời nghèo có thu nhập thấp, không đủ trả khoản tiền viện phí lớn cũng nhƣ các chi phí thuốc men khác, thêm vào đó có thể do đối xử bất bình đẳng trong xã hội, ngƣời nghèo không đƣợc quan tâm chữa trị bằng ngƣời giàu nên tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ y tế của ngƣời nghèo là rất thấp. Bên cạnh đó, do nhận thức của ngƣời nghèo, họ thƣờng không quan tâm lắm bệnh tật của mình, khi bị bệnh họ thƣờng cố tự chạy chữa bằng mọi biện pháp rẻ tiền, chỉ đến khi bệnh trở nên trầm trọng họ mới vào viện vì vậy việc điều trị đem lại hiệu quả không cao mà còn tốn thêm nhiều khoản tiền không đáng có. Nguy cơ dễ bị tổn thƣơng: Ở những ngƣời nghèo, nguy cơ dễ bị tổn thƣơng là nhân tố luôn đi kèm với sự khốn cùng về vật chất và con ngƣời.
Vậy nguy cơ dễ bị tổn thƣơng là gì? Nó chính là nguy cơ mà ngƣời nghèo phải đối mặt với nhiều loại rủi ro nhƣ bị ngƣợc đãi, đánh đập, thiên tai, bị thôi việc, phải nghỉ học. Nói cách khác, những rủi ro mà ngƣời nghèo phải đối mặt do tình trạng nghèo hèn của họ chính là nguyên nhân khiến họ rất dễ bị tổn thƣơng. Những ngƣời nghèo do tài sản ít, thu nhập thấp, họ chỉ có thể trang trải ở mức hạn chế, tối thiểu các nhu cầu thiết yếu nhất của cuộc sống. Vì vậy, khi rủi ro xảy ra họ rất dễ bị tổn thƣơng và khó vƣợt qua đƣợc các cú sốc có hại, những cú sốc mang tính tạm thời mà những ngƣời có nhiều tài sản hơn dễ dàng vƣợt qua đƣợc.
Do thu nhập thấp, ngƣời nghèo có rất ít khả năng tiếp cận với các cơ hội tăng trƣởng kinh tế, vì thế họ thƣờng phải bỏ thêm các chi phí không đáng có hoặc giảm thu nhập. Ở các hộ nghèo, khi có rủi ro xảy ra nhƣ mất cắp hay có ngƣời bị ốm đau thì họ dễ bị rơi vào tình trạng khủng hoảng, làm đảo lộn cuộc sống của cả gia đình mà một thời gian lâu sau mới có thể phục hồi đƣợc. Cũng có khi việc khắc phục những rủi ro trong ngắn hạn có thể làm trầm trọng thêm sự khốn cùng của họ trong dài hạn. 1 Không có tiếng nói và quyền lực: Những ngƣời nghèo thƣờng bị đối xử không công bằng, bị gạt ra ngoài lề xã hội do vậy họ thƣờng không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung của cộng đồng cũng nhƣ các công việc liên quan đến chính bản thân họ.
Trong cuộc sống những ngƣời nghèo chịu nhiều bất công do sự phân biệt đối xử, chịu sự thô bạo, nhục mạ, họ bị tƣớc đi những quyền mà những ngƣời bình thƣờng khác nghiễm nhiên đƣợc hƣởng. Ngƣời nghèo luôn cảm thấy bị sống phụ thuộc, luôn nơm nớp lo sợ mọi thứ, trở nên tự ti, không kiểm soát đƣợc cuộc sống của mình. Qua các cách tiếp cận trên đã giúp chúng ta nâng cao sự hiểu biết về các nguyên nhân gây ra nghèo đói nhằm có những phƣơng hƣớng cách thức hành động đúng đắn để tấn công đẩy lùi nghèo đói, làm cho chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân ngày càng tốt đẹp hơn.3 Chuẩn nghèo ở Việt Nam Để xác định đƣợc ngƣỡng đói nghèo thì điểm mấu chốt của vấn đề phải xác định đƣợc chuẩn đói nghèo. Chuẩn đói nghèo biến động theo thời gian và không gian, nên không thể đƣa ra đƣợc một chuẩn mực chung cho đói nghèo để áp dụng trong công tác xoá đói giảm nghèo, mà cần phải có chỉ tiêu, tiêu chí riêng cho từng vùng, miền ở từng thời kỳ lịch sử.
Nó là một khái niệm động, do vậy phải căn cứ vào tốc độ tăng trƣởng kinh tế, nguồn lực tài chính và qua điều tra, khảo sát, nghiên cứu nƣớc ta đã đƣa ra mức chuẩn về đói nghèo phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam trong từng giai đoạn. Từ năm 1993 đến nay Việt Nam đã có 7 lần thay đổi chuẩn nghèo, các mức chuẩn nghèo của Việt Nam trong 3 giai đoạn đầu: giai đoạn 1993-1994, giai đoạn 1995-1997 và giai đoạn 1998-2000 chúng ta sử dụng mức chuẩn nghèo theo thu nhập bình quân đầu ngƣời trên tháng nhƣng đƣợc tính quy đổi bằng gạo (kg/ngƣời/tháng). Từ năm 2000 trở đi nƣớc ta về cơ bản đã xoá đƣợc tình trạng đói, do đó mức chuẩn nghèo các giai đoạn 2001-2005 và giai đoạn 2006 - 2010 vẫn đƣợc tính theo thu nhập bình quân đầu ngƣời trên tháng nhƣng đƣợc tính bằng giá trị (đồng/ngƣời/tháng) (Nguyễn Đức Thắng, 2016).