Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XIII về việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Tại Việt Nam, kinh tế hộ gia đình đã được khẳng định là đơn vị kinh tế tự chủ, giữ vai trò lực lượng sản xuất chủ yếu trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm và nông sản xuất khẩu. Để khai thác tiềm năng đất đai, lao động và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, nhu cầu về vốn tín dụng ngân hàng của các hộ sản xuất ngày càng gia tăng.

Huyện Ninh Giang là địa bàn thuần nông nằm ở phía Nam tỉnh Hải Dương, có diện tích tự nhiên 13.543,7 ha, dân số khoảng 143.794 người, bao gồm 27 xã và 1 thị trấn. Trong đó, khu vực nông nghiệp và nông thôn chiếm 85% diện tích và 87% dân số; tổng diện tích gieo trồng đạt 36.316 ha. Mặc dù địa phương có thế mạnh về trồng lúa nước, cây ăn quả và rau màu, hoạt động cung ứng vốn tín dụng cho hộ sản xuất gặp phải những khó khăn mang tính đặc thù: quy mô món vay nhỏ lẻ, chi phí nghiệp vụ trên một đồng vốn cao, địa bàn phân tán và hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ thuộc lớn vào thời tiết, thiên tai. Việc mở rộng quy mô tín dụng nếu không đi đôi với việc nâng cao chất lượng và kiểm soát rủi ro sẽ dẫn đến nguy cơ phát sinh nợ quá hạn, đe dọa sự an toàn vốn của tổ chức tín dụng.

Từ tình hình thực tiễn trên, tác giả xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hộ sản xuất, tín dụng ngân hàng và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng đối với hộ sản xuất; nghiên cứu bài học kinh nghiệm quốc tế từ mô hình Ngân hàng Nhân dân Indonesia (BRI).
  2. Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh và hoạt động tín dụng đối với hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNo&PTNT) huyện Ninh Giang trong giai đoạn 2001 - 2003, chỉ ra các ưu điểm và hạn chế tồn tại.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp nghiệp vụ và kiến nghị cơ chế chính sách nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư tín dụng và đảm bảo an toàn vốn cho chi nhánh.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tín dụng đối với hộ sản xuất tại NHNo&PTNT huyện Ninh Giang.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian: Địa bàn huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
    • Về thời gian: Khảo sát số liệu hoạt động thực tế từ năm 2001 đến năm 2003.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống khái niệm, văn bản quy phạm pháp luật và mô hình lý thuyết chuyên ngành ngân hàng:

  • Khung pháp lý và khái niệm: Khái niệm hộ sản xuất theo pháp luật dân sự (đơn vị kinh tế tự chủ, chủ hộ đại diện thực hiện giao dịch vì lợi ích chung, chịu trách nhiệm tài sản). Khái niệm hoạt động cấp tín dụng theo Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng. Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, xác định 2 nguyên tắc cho vay bắt buộc (sử dụng vốn đúng mục đích; hoàn trả gốc và lãi đúng hạn) cùng các điều kiện vay vốn (năng lực pháp luật, phương án sản xuất khả thi, khả năng tài chính, bảo đảm tiền vay).
  • Văn bản định hướng và liên tịch: Nghị định 14/CP ngày 02/03/1993 và Thông tư hướng dẫn số 01/TĐ-NH; Quyết định 67/1999/QĐ-TTg, Công văn số 302/CV-NHNN; Văn bản số 791/NHNN-06 của Tổng Giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam; Nghị quyết liên tịch 2308 giữa Agribank và Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; các chương trình phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ và Hội Cựu chiến binh.
  • Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng:
    • Chỉ tiêu định tính: Đảm bảo nguyên tắc cho vay, đáp ứng điều kiện vay vốn, mức độ tuân thủ quy trình thẩm định.
    • Chỉ tiêu định lượng: Doanh số cho vay; Doanh số thu nợ; Tỷ lệ thu nợ; Dư nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn; Tỷ lệ nợ khó đòi; Vòng quay vốn tín dụng (Doanh số thu nợ / Dư nợ bình quân); Lợi nhuận (Tổng thu - Tổng chi - Thuế); Mức cho vay bình quân một lượt hộ (Doanh số cho vay / Số lượt hộ vay); Tỷ lệ cho vay trung - dài hạn (Dư nợ trung - dài hạn / Tổng dư nợ); Định mức quản lý của cán bộ tín dụng (Số hộ vay vốn / Số cán bộ tín dụng).
  • Mô hình tham chiếu kinh nghiệm: Khảo cứu mô hình tín dụng vi mô nông thôn của Ngân hàng Nhân dân Indonesia (BRI).
  • Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp lý luận; phương pháp thống kê mô tả; phương pháp so sánh (số tuyệt đối, số tương đối, tỷ trọng cơ cấu qua các năm 2001, 2002, 2003); phương pháp điều tra, khảo sát thực tế nhu cầu vay vốn của hộ sản xuất trên địa bàn huyện.
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo tổng kết công tác tín dụng và tài chính các năm 2001, 2002, 2003 của NHNo&PTNT huyện Ninh Giang; số liệu thống kê kinh tế - xã hội của UBND huyện Ninh Giang năm 2003.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Hộ sản xuất và hiệu quả trong đầu tư tín dụng đối với hộ sản xuất

Chương này trình bày các vấn đề mang tính lý luận về kinh tế hộ và tín dụng ngân hàng nông thôn:

  • Đặc điểm kinh tế hộ: Hơn 70% dân số sống ở nông thôn với tập quán tự cấp, tự túc. Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế cơ sở, kết hợp sở hữu tài sản chung của các thành viên gia đình, chủ hộ trực tiếp lao động. Quy mô vốn nhỏ, vòng quay vốn chậm, phụ thuộc vào tính thời vụ của cây trồng, vật nuôi; trình độ kỹ thuật và quản lý còn hạn chế, chi phí ban đầu thấp nhưng thiếu vốn để mở rộng sản xuất hàng hóa.
  • Đặc điểm tín dụng hộ sản xuất: Gắn liền với chu kỳ sinh trưởng tự nhiên của động thực vật, quyết định thời điểm phát tiền vay và thu nợ; chịu rủi ro cao từ thiên tai, dịch bệnh; chi phí quản lý trên từng đồng vốn vay cao do mạng lưới rộng và món vay phân tán.
  • Vai trò của tín dụng: Cung ứng vốn duy trì sản xuất liên tục, thúc đẩy quá trình tích tụ vốn và tập trung sản xuất, khôi phục làng nghề truyền thống, giải quyết việc làm nông nhàn, hạn chế tệ nạn xã hội và tình trạng cho vay nặng lãi, bán lúa non ở nông thôn.
  • Bài học kinh nghiệm từ Ngân hàng Nhân dân Indonesia (BRI): BRI là ngân hàng thương mại nhà nước Indonesia triển khai mạng lưới gồm 3.703 đơn vị giao dịch tại khu vực nông thôn. BRI áp dụng nguyên tắc quản lý đơn giản hóa: chuẩn hóa dòng sản phẩm; áp dụng lãi suất cố định kèm cơ chế tiền phạt 25% tính trong lãi thu định kỳ và hoàn trả lại số tiền phạt này nếu khách hàng trả nợ đúng hạn; yêu cầu tài sản thế chấp như một cam kết trách nhiệm; bắt buộc cán bộ tín dụng đến thăm thực địa tại nhà khách hàng trước và sau giải ngân; thiết lập cơ chế khoán tài chính và trích thưởng theo tỷ lệ phần trăm đối với các khoản nợ đã xóa nhưng thu hồi được. Kết quả, BRI duy trì tỷ lệ nợ quá hạn ở mức 5% và tỷ lệ thất thoát vốn dài hạn 2,66%.

Chương II: Thực trạng tín dụng đối với hộ sản xuất tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Ninh Giang

Chương này đi sâu khảo sát các chỉ tiêu tài chính, tổ chức và quy trình nghiệp vụ của chi nhánh:

  • Khái quát kinh tế địa phương và tổ chức chi nhánh: Năm 2003, tổng sản phẩm huyện Ninh Giang đạt 585,06 tỷ đồng; giá trị nông, lâm, thủy sản đạt 328,9 tỷ đồng (+8,2% so với 2002); cơ cấu kinh tế: trồng trọt 56,2%, chăn nuôi 16,4%, dịch vụ 27,4%; năng suất lúa bình quân 117,6 tạ/ha. Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Ninh Giang được thành lập theo Quyết định số 107/QĐ-NHNo ngày 28/12/1996 của Tổng Giám đốc Agribank; gồm 1 Hội sở, 1 Ngân hàng cấp III và 1 Phòng giao dịch; tổng số cán bộ công nhân viên là 37 người (trình độ đại học: 12 người chiếm 32,43%; cao đẳng: 5 người chiếm 13,51%; trung học: 20 người chiếm 54,06%; độ tuổi bình quân 38 tuổi).
Chỉ tiêu tài chính - hoạt động Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 So sánh 2003/2002 (%)
1. Tổng nguồn vốn huy động (Triệu đồng) 71.622 86.981 107.923 +24,07%
- Nguồn vốn tại địa phương - 49.081 65.173 +32,78%
+ Tiền gửi không kỳ hạn - 17.728 19.912 +12,31%
+ Tiền gửi có kỳ hạn dưới 1 năm - 11.462 15.483 +35,08%
+ Tiền gửi có kỳ hạn từ 1 năm trở lên - 19.891 29.788 +49,75%
- Nguồn vốn ủy thác nước ngoài - - 21.940 (tỷ trọng 20,33%) +8,12%
- Nguồn vốn vay Ngân hàng người nghèo - 17.600 20.800 (tỷ trọng 19,29%) +18,18%
2. Dư nợ tín dụng (Triệu đồng) 49.800 70.265 91.834 +30,70%
- Dư nợ NHNo&PTNT - 52.665 71.034 +34,87%
- Dư nợ Ngân hàng người nghèo - 17.600 20.800 +18,18%
- Dư nợ bình quân / cán bộ (Triệu đồng/người) - 1.899 2.482 +30,70%
3. Cơ cấu dư nợ theo thời hạn (%)
- Tỷ trọng cho vay ngắn hạn NHNo 25,65% 31,92% 37,26% -
- Tỷ trọng cho vay trung - dài hạn NHNo 43,88% 44,02% 44,15% -
- Cho vay ngắn hạn Ngân hàng người nghèo 0,92% - - -
- Cho vay trung - dài hạn Ngân hàng người nghèo 29,55% 29,64% 29,73% -
4. Chất lượng tín dụng
- Dư nợ quá hạn (Triệu đồng) 73 84 101 +20,24%
- Tỷ lệ nợ quá hạn / Tổng dư nợ (%) 0,15% 0,12% 0,11% -
5. Kết quả tài chính và ngân quỹ (Triệu đồng)
- Chênh lệch thu - chi (Lợi nhuận) 2.125 2.950 4.411 +49,52%
- Thu tiền mặt qua quỹ 154.500 - - -
- Thu hồi tiền thừa trả khách hàng (152 món) - - 96 -
- Phát hiện tiền giả (95 tờ) - - 8,7 -
  • Hai phương pháp đầu tư tín dụng thực tế:
    • Cho vay trực tiếp từng hộ tại trụ sở ngân hàng: Áp dụng với mọi đối tượng khách hàng. Quy trình gồm: cán bộ tín dụng hướng dẫn hồ sơ, thẩm định; trưởng phòng kiểm tra/tái thẩm định; giám đốc phê duyệt; giải ngân tại quầy; tiến hành kiểm tra sau cho vay chậm nhất 03 tháng đối với món vay thông thường và chậm nhất 01 tháng đối với món vay dư nợ trên 50 triệu đồng. Ưu điểm là kiểm soát dòng tiền chặt chẽ; nhược điểm là gây quá tải cho cán bộ tín dụng trong thời điểm mùa vụ, không phù hợp cho món vay nhỏ.
    • Cho vay thông qua tổ/nhóm vay vốn: Tổ thành lập tự nguyện tại thôn xóm, được UBND xã phê duyệt. Tổ trưởng họp bình xét, lập danh sách; tổ viên ký hợp đồng tín dụng trực tiếp với ngân hàng. Tổ lưu động (gồm 1 kế toán, 1 tín dụng, 1 thủ quỹ) giải ngân và thu gốc, lãi định kỳ trực tiếp tại trụ sở UBND xã. Tổ trưởng được hưởng hoa hồng dịch vụ. Ưu điểm là tiết kiệm thời gian đi lại cho hộ dân, giảm tải cho cán bộ ngân hàng, huy động sự giám sát cộng đồng; nhược điểm là chỉ áp dụng cho món vay nhỏ mùa vụ, tiềm ẩn rủi ro nếu tổ trưởng chiếm dụng tiền thu nợ của tổ viên.
  • Tình hình quan hệ khách hàng hộ sản xuất: Khách hàng là hộ sản xuất chiếm trên 90% tổng số khách hàng của chi nhánh. Số hộ có quan hệ vay vốn tăng từ 13.154 hộ (tỷ trọng 38,39% tổng số hộ trên địa bàn) năm 2001 lên 13.550 hộ (42,23%) năm 2002 và đạt 17.159 hộ (chiếm 46,84% trong tổng số 36.624 hộ toàn huyện) vào năm 2003. Mức cho vay bình quân trên một lượt hộ tăng từ 4,23 triệu đồng (2001) lên 4,65 triệu đồng (2002) và đạt 6,48 triệu đồng (2003).

Chương III: Những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ sản xuất tại Ngân hàng nông nghiệp huyện Ninh Giang

Tác giả đề xuất nhóm giải pháp xuất phát từ các tồn tại trong thực tiễn hoạt động:

  • Định kỳ hạn nợ phù hợp chu kỳ luân chuyển vốn: Khắc phục tình trạng xác định thời hạn cho vay chưa bám sát chu kỳ sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi hoặc chưa tính đúng nguồn tiền trả nợ; tránh việc dồn áp lực trả nợ khi hộ dân chưa thu hoạch nông sản dẫn đến phát sinh nợ quá hạn kỹ thuật.
  • Nâng mức cho vay và cơ cấu thời hạn đầu tư: Từng bước nâng mức cho vay bình quân/hộ (mức 6,48 triệu đồng/hộ năm 2003 còn thấp so với nhu cầu thực tế); kết hợp cho vay ngắn hạn với mở rộng cho vay trung và dài hạn (đảm bảo tỷ lệ tối thiểu 30% theo mục tiêu Agribank) nhằm tài trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển kinh tế trang trại và làng nghề.
  • Vận dụng bài học quản lý từ mô hình BRI: Đơn giản hóa thủ tục hành chính; áp dụng cơ chế lãi suất linh hoạt gắn với chế tài khuyến khích trả nợ đúng hạn; áp dụng cơ chế khoán tài chính, khen thưởng cán bộ tín dụng theo hiệu quả thu hồi nợ đã xử lý rủi ro; duy trì bắt buộc việc kiểm tra thực địa trước và sau cho vay.
  • Giảm áp lực định mức quản lý cán bộ tín dụng: Điều chỉnh khối lượng công việc khi mỗi cán bộ Agribank Ninh Giang phải quản lý trung bình 600 - 800 hộ (trong khi mức chuẩn quốc tế là 200 - 300 hộ), nhằm nâng cao chất lượng thẩm định và kiểm tra giám sát sử dụng vốn.
  • Kiến nghị tháo gỡ vướng mắc cơ chế chính sách: Đề nghị hoàn thiện hành lang pháp lý về thế chấp tài sản, bảo lãnh tín chấp; quy định rõ trách nhiệm tài chính và pháp lý của các tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Phụ nữ) khi đứng ra tín chấp vay vốn để chia sẻ rủi ro cùng ngân hàng.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa số liệu thực nghiệm: Khóa luận phản ánh bức tranh hoạt động tín dụng nông thôn của một chi nhánh ngân hàng thương mại cấp huyện giai đoạn 2001 - 2003, ghi nhận mức tăng trưởng dư nợ 30,7% năm 2003 (đạt 91.834 triệu đồng), tỷ lệ nợ quá hạn được duy trì ở mức thấp (0,11% năm 2003), và lợi nhuận tăng trưởng 49,52% (đạt 4.411 triệu đồng).
  • Phân tích so sánh hai phương thức cấp tín dụng: Tác giả chỉ rõ ranh giới áp dụng giữa phương thức cho vay trực tiếp tại quầy và cho vay thông qua tổ nhóm vay vốn tại UBND xã, bao gồm quy chuẩn cụ thể về thời gian kiểm tra sau giải ngân (1 tháng với món vay >50 triệu đồng; 3 tháng với món thông thường).
  • Đóng góp phát hiện: Luận giải mâu thuẫn giữa nhu cầu vốn đầu tư thực tế của kinh tế hộ với mức cho vay bình quân (6,48 triệu đồng/hộ), sự quá tải của cán bộ tín dụng (quản lý 600 - 800 hộ/người) và rủi ro pháp lý trong việc cho vay tín chấp thông qua các đoàn thể. Nghiên cứu đã liên hệ kinh nghiệm ngân hàng vi mô BRI để đề xuất giải pháp khoán tài chính và lãi suất khuyến khích.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả thừa nhận số liệu nghiên cứu bị giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến năm 2003 tại một địa bàn cấp huyện; chưa tiếp cận được dữ liệu chi tiết bóc tách dư nợ theo từng đối tượng sản xuất cụ thể (từng loại cây trồng, vật nuôi, làng nghề); nội dung văn bản dừng lại ở đầu phần trình bày Bảng 8 của Chương II.
  • Hướng mở rộng: Mở rộng nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội sau vay (năng suất, thu nhập, khả năng tích lũy của từng nhóm hộ); nghiên cứu mô hình quản lý rủi ro tín dụng nông nghiệp trong điều kiện thiên tai dịch bệnh cực đoan; hoàn thiện quy chế phối hợp pháp lý và trách nhiệm tài chính giữa ngân hàng và các tổ chức nhận ủy thác tín chấp.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế nông nghiệp; cán bộ tín dụng phụ trách địa bàn nông nghiệp nông thôn; nhà nghiên cứu về tín dụng vi mô và ngân hàng thương mại.
  • Phần nội dung có giá trị sử dụng cao:
    • Quy trình và thủ tục cho vay thông qua tổ nhóm vay vốn lưu động tại xã.
    • Quy chuẩn phân định thời gian kiểm tra sau vay (1 tháng và 3 tháng) theo quy định Agribank.
    • Hệ thống công thức và chỉ tiêu tài chính định tính, định lượng dùng để đánh giá hiệu quả tín dụng hộ sản xuất.
    • Tư liệu nghiên cứu mô hình hoạt động tín dụng vi mô nông thôn của Ngân hàng Nhân dân Indonesia (BRI).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận quy định kiểm tra sử dụng vốn sau khi giải ngân tại Agribank huyện Ninh Giang như thế nào?
Theo quy định được tác giả nêu trong khóa luận, chậm nhất sau 03 tháng kể từ ngày giải ngân lần đầu, cán bộ tín dụng chuyên quản phải tiến hành kiểm tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng. Riêng đối với các món vay có dư nợ trên 50 triệu đồng, thời hạn kiểm tra bắt buộc phải thực hiện chậm nhất sau 01 tháng kể từ ngày giải ngân.

2. Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của NHNo&PTNT huyện Ninh Giang biến động ra sao trong giai đoạn 2001 - 2003?
Tỷ lệ nợ quá hạn của chi nhánh liên tục giảm qua các năm: năm 2001 là 0,15% (dư nợ quá hạn 73 triệu đồng), năm 2002 giảm xuống 0,12% (84 triệu đồng), và năm 2003 đạt mức 0,11% (101 triệu đồng trên tổng dư nợ 91.834 triệu đồng).

3. Số lượng hộ vay do một cán bộ tín dụng Agribank quản lý được so sánh với tiêu chuẩn quốc tế như thế nào?
Khóa luận chỉ ra rằng mỗi cán bộ tín dụng tại NHNo&PTNT Việt Nam quản lý trung bình từ 600 đến 800 hộ vay vốn trên địa bàn nông thôn rộng lớn, trong khi tại các nước khác chỉ tiêu này chỉ dao động ở mức 200 đến 300 hộ/cán bộ.

4. Mô hình Ngân hàng Nhân dân Indonesia (BRI) được tác giả dẫn giải với những cơ chế nghiệp vụ cốt lõi nào?
BRI triển khai mạng lưới 3.703 đơn vị ở nông thôn, duy trì sản phẩm đơn giản; áp dụng mức lãi suất cố định bao gồm 25% tiền phạt, số tiền này sẽ được hoàn trả lại cho người vay nếu trả nợ đúng hạn; bắt buộc cán bộ tín dụng thăm nhà khách hàng trước và sau khi vay; và trích thưởng theo tỷ lệ phần trăm cho cán bộ thu hồi được các khoản nợ đã xóa.

5. Mức cho vay bình quân trên một lượt hộ sản xuất tại Agribank huyện Ninh Giang năm 2003 là bao nhiêu?
Mức cho vay bình quân đạt 6,48 triệu đồng/hộ vào năm 2003 (tăng từ 4,23 triệu đồng năm 2001 và 4,65 triệu đồng năm 2002). Tác giả đánh giá mức vốn này vẫn còn thấp so với nhu cầu thực tế của các hộ trong việc đầu tư sản xuất kinh doanh và chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phạm Thanh Trang đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tín dụng hộ sản xuất, đồng thời phản ánh chi tiết thực trạng hoạt động huy động vốn và dư nợ tín dụng tại NHNo&PTNT huyện Ninh Giang giai đoạn 2001 - 2003. Công trình phân tích rõ nét quy trình vận hành của hai hình thức cho vay trực tiếp và cho vay qua tổ nhóm lưu động tại các xã, đối chiếu với các chỉ tiêu định lượng về nợ quá hạn, lợi nhuận và quan hệ khách hàng. Trên cơ sở đối sánh thực tiễn địa phương và mô hình kinh nghiệm của BRI, tác giả đề xuất các định hướng cụ thể về định kỳ hạn nợ, nâng mức cho vay bình quân và tháo gỡ rào cản pháp lý trong cho vay tín chấp nông thôn.