CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ THEO DÕI CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT 1. Nhận thức chung về theo dõi chấp hành pháp luật 1. Quan niệm về chấp hành pháp luật Trước hết cần phải khẳng định rằng, chấp hành pháp luật và thi hành pháp luật là các hình thức thực hiện pháp luật. Chấp hành pháp luật là nhận lấy trách nhiệm để thực hành những điều mà pháp luật quy định.
Chấp hành pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ do pháp luật quy định cho mình bằng hành động tích cực. Ví dụ: Pháp luật quy định công dân nam từ 18 tuổi đến 25 tuổi phải làm nghĩa vụ quân sự. Một thanh nhiên trong hạn tuổi trên bằng hành vi của mình, không chờ ai nhắc nhở, chủ động đăng kí nhập ngũ, phục vụ trong quân đội đúng thời hạn quy định, tức là thanh niên đó đã chấp hành pháp luật. Nét đặc trưng tiêu biểu của chấp hành pháp luật, với tính cách là một trong những hình thức thực hiện pháp luật, là việc chấp hành quy định pháp luật đối với chủ thể pháp luật là việc phải làm, dù muốn hay không muốn.
Cùng với tuân thủ pháp luật với tính cách là một hình thức thực hiện pháp luật, chấp hành pháp luật có tầm quan trọng to lớn trong việc xác lập một trật tự pháp luật bền vững trong đời sống của xã hội. Tuân thủ pháp luật cũng là một trong những hình thức thực hiện pháp luật. Tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật có chủ thể là mọi cá nhân, cơ quan tổ chức. Áp dụng pháp luật là hình thức của thực hiện pháp luật mà chủ thể chỉ là các cá nhân có thẩm quyền, cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
7 Trước khi nói về thi hành pháp luật, cũng cần phải nhấn mạnh các hình thức thực hiện pháp luật. Tuân thủ pháp luật là chủ thể pháp luật kiềm chế mình để không thực hiện điều pháp luật cấm. Tuân thủ pháp luật mang tính bắt buộc thực hiện. Bản chất của tuân thủ pháp luật có tính chất thụ động và thể hiện dưới dạng hành vi không hành động.
Đối tượng thực hiện tuân thủ pháp luật là mọi chủ thể. Hình thức thể hiện của tuân thủ pháp luật thường thể hiện dưới dạng những quy định cấm đoán. Tức quy phạm không bắt buộc chủ thể không được thực hiện những hành vi nhất định. Ví dụ: Pháp luật cấm hành vi mua bán dâm.
Do đó, không thực hiện hành vi mua bán dâm được xem là tuân thủ pháp luật. Áp dụng pháp luật là việc người có chức vụ, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Áp dụng pháp luật mang tính bắt buộc thực hiện. Bản chất của áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, được thể hiện dưới hình thức hành vi hành động và hành vi không hành động.
Đối tượng thực hiện: Chỉ có những người có chức vụ, có thẩm quyền, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hình thức thể hiện áp dụng pháp luật là các loại quy phạm. Bởi Nhà nước quyền hạn và nghĩa vụ tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện pháp luật. Ví dụ: Khi bên A khởi kiện bên B, tòa án có trách nhiệm xem xét và thụ lý đơn khởi kiện của bên A.
Sử dụng pháp luật là chủ thể pháp luật thực hiện điều mà pháp luật cho phép. Không mang tính bắt buộc thực hiện và phụ thuộc vào ý chí, sự lựa chọn của từng chủ thể. Bản chất của sử dụng pháp luật có thể là hành vi hành động hoặc hành vi không hành động tùy vào quy định của pháp luật. Đối 8 tượng thực hiện sử dụng pháp luật là mọi chủ thể.
Hình thức thể hiện: Thường được thể hiện dưới những quy phạm trao quyền, tức pháp luật quy định về quyền hạn của các chủ thể. Ví dụ: Khi bên A cho rằng mình bị xâm quyền và lợi ích hợp pháp bởi bên B. Bên A có quyền khởi kiện B ra tòa án, vì pháp luật trao cho A quyền được khởi kiện B ra tòa án có thẩm quyền. Khi đó, A được xem là đang sử dụng pháp luật.
Trong khoa học pháp lý và thực tiễn pháp luật ở Việt Nam, khái niệm “thi hành pháp luật” được giải thích theo nhiều nghĩa khác nhau. Thi hành pháp luật là việc chủ thể pháp luật chủ động thực hiện điều pháp luật yêu cầu. Thi hanh pháp luật mang tính bắt buộc thực hiện. Bản chất của thi hành pháp luật có tính chủ động, tích cực, thực hiện pháp luật dưới hình thức hành vi hành động.
Thi hành pháp luật mang tính chủ động thực hiện điều luật pháp yêu cầu. Đối tượng thực hiện thi hành pháp luật là mọi chủ thể. Hình thức thể hiện của thi hành pháp luật thường thể hiện dưới dạng những quy phạm bắt buộc. Do đó, chủ thể buộc phải thực hiện hành vi hành động mang tính hợp pháp.
Ví dụ, pháp luật quy định về nghĩa vụ đóng thuế thu nhập doanh nghiệp/thuế thu nhập cá nhân. Do đó, nếu không thuộc đối tượng được miễn thuế, chủ thể đóng đầy đủ khoản thuế được coi là đang thi hành pháp luật. Theo quan điểm thứ nhất được thể hiện trong các giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật của một số cơ sở đào tạo luật như Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội…thường cho rằng “thi hành pháp luật” (hoặc “chấp hành pháp luật”) chỉ là một trong bốn hình thức “thực hiện pháp luật”. Theo đó, thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật thông qua bốn hình thức: Tuân theo (tuân thủ) pháp luật, thi hành (chấp hành) pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng 9 pháp luật.
Theo quan điểm này, thi hành pháp luật là hình thức thông qua đó nghĩa vụ pháp lý của chủ thể pháp luật được hiện thực hóa bằng hành động tích cực của chủ thể này. Đối với quan điểm này PGS, TS Nguyễn Văn Mạnh nhận xét: “Việc phân chia các hình thức thực hiện pháp luật như vậy không làm rõ được mối quan hệ, tính liên thông của các hình thức thực hiện pháp luật. Chẳng hạn, các cơ quan nhà nước sử dụng pháp luật thì không thể tách rời với áp dụng pháp luật và tuân thủ pháp luật. Hạn chế này do sai lầm về mặt phương pháp luận, đem phương pháp siêu hình thay cho phương pháp biện chứng, không thấy được mối liên hệ chặt chẽ giữa các hình thức đó” [18-8].
Quan điểm thứ hai, thi hành pháp luật được hiểu là mọi hoạt động nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống, biến quy định của pháp luật trở thành hành vi của các chủ thể. Quá trình này gắn liền và là sự tiếp nối của quá trình xây dựng pháp luật. Theo quan điểm này, thi hành pháp luật với thực hiện pháp luật là đồng nhất với nhau, đây đều là những hoạt động có mục đích của các chủ thể nhằm biến những quy định của pháp luật thành hoạt động thực tế của mình. Quan điểm này đã được thể chế hóa trong nội dung các bản Hiến pháp qua các thời kỳ như: + Điều 96, Điều 98, Điều 99, Điều 100, Điều 112, Điều 114 Hiến pháp năm 2013 quy định: Chính phủ “tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước”, Thủ tướng Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức thi hành pháp luật”, “Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng.
ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái pháp luật theo quy định của luật”, Bộ trưởng “chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công; tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến 10 ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc”, “Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương”, “Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương”. + Khoản 2 Điều 112, Điều 115 Hiến pháp năm 1992 quy định: Chính phủ có trách nhiệm “bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật”, Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền “Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, Chính phủ ra nghị quyết, nghị định, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó”. + Điều 52, Điều 59 Hiến pháp năm 1946 quy định: Chính phủ có quyền “thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện”, Ủy ban hành chính có trách nhiệm “thi hành các mệnh lệnh của cấp trên”. Như vậy, đối với các cơ quan nhà nước THPL trong trường hợp này là hình thức để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, là quá trình hoạt động có mục đích, có ý chí, có lý trí của các cơ quan nhà nước và những người có trách nhiệm, quyền hạn để pháp luật đi vào cuộc sống; với các cá nhân và tổ chức khác thì THPL là việc họ sử dụng quyền và làm nghĩa vụ pháp lý của mình.
Với tư cách là một thực thể tự nhiên, đồng thời là một thực thể xã hội, con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng tác động của các quan hệ xã hội. Và xã hội cũng chỉ tồn tại và phát triển dựa trên sự giao tiếp giữa người và người bằng ngôn ngữ. Vì vậy, cần xem xét quan niệm về thi hành pháp luật dưới cả góc độ về ngôn ngữ. Theo từ điển Luật học định nghĩa: “thi hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật một cách chủ động.
Chủ thể pháp luật phải thực hiện một thao tác nhất định mới có thể thực hiện pháp luật được” [17, tr 758]. Như vậy, dưới góc độ ngôn ngữ khái niệm thi hành pháp luật cũng được hiểu là 11 một trong những hình thực thực hiện pháp luật, tuy nhiên khái niệm khác với quan điểm trên bởi với hình thức thực hiện pháp luật này chủ thể không phải chỉ thực hiện nghĩa vụ bằng hành vi tích cực mà hành động thực hiện pháp luật ở đây có thể là thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ, vậy thi hành pháp luật lúc này nó vừa là hình thức chấp hành pháp luật, vừa là sử dụng pháp luật trong khoa học pháp lý.