phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý thuyết về hiệu quả hoạt động tài trợ thƣơng mại của NHTM. Chƣơng 2: Đánh giá hiệu quả hoạt động tài trợ thƣơng mại tại BIDV. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ thƣơng mại tại BIDV. 6 CHƢƠNG 1 TÀI TRỢ THƢƠNG MẠI VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƢƠNG MẠI CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƢƠNG MẠI Tài trợ thƣơng mại là một hiện tƣợng kinh tế khách quan, gồm tập hợp tổng thể các chính sách, biện pháp và hình thức hỗ trợ tài chính trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thƣơng mại trong một hoặc một số hay tất cả cá công đoạn của quy trình tái sản xuất từ đầu tƣ, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi. [11] TTTM là hoạt động mang tính ổn định đối với các ngân hàng thƣơng mại. Đây là nghiệp vụ đƣợc triển khai gần nhƣ ngay từ khi ngân hàng ra đời. Nhiều ngân hàng hiện đại vẫn hoạt động với tỷ trọng doanh thu đáng kể từ TTTM.
Hoạt động TTTM của NHTM bao gồm những hình thức chính đó là tài trợ xuất khẩu và tài trợ nhập khẩu. Tài trợ xuất khẩu bao gồm: tài trợ vốn lƣu động để thu mua, chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu theo đúng L/C quy định, hợp đồng ngoại thƣơng đã ký kết, đơn đặt hàng, Chiết khấu chứng từ hàng xuất khẩu, Ứng trƣớc tiền hàng xuất khẩu,.Tài trợ nhập khẩu bao gồm: mở L/C thanh toán hàng nhập khẩu, Cho vay thanh toán bộ chứng từ hàng nhập, nghiệp vụ bảo lãnh, tái bảo lãnh,.Trong đó, công cụ đƣợc sử dụng chính trong TTTM là thƣ tín dụng, ký hiệu L/C (Letter of Credit). Ngày nay, trong xu hƣớng toàn cầu hoá nền kinh tế và thƣơng mại quốc tế ngày càng phát triển thì TTTM đã trở thành một hoạt động cơ bản, không thể thiếu của các Ngân hàng thƣơng mại. Hoạt động TTTM của Ngân hàng thƣơng mại là một mắt xích không thể thiếu đƣợc trong toàn bộ dây truyền thực hiện 7 một hợp đồng ngoại thƣơng.
Thực hiện tốt vai trò trung gian thanh toán của mình trong hoạt động TTTM, Ngân hàng thƣơng mại đã đóng góp rất nhiều cho khách hàng, cho nền kinh tế cũng nhƣ cho chính bản thân ngân hàng. * Đối với nền kinh tế TTTM của ngân hàng thƣơng mại tạo điều kiện cho hàng hoá xuất nhập khẩu (XNK) lƣu thông trôi chảy. Thông qua tài trợ của ngân hàng, hàng hoá XNK theo yêu cầu của thị trƣờng đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, liên tục đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế. TTTM của ngân hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm động cơ thúc đẩy nền kinh tế.
Doanh nghiệp có sự giúp đ của ngân hàng có vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, hiện đại hoá trang thiết bị làm tăng năng suất lao động. Doanh nghiệp phát triển chính là kinh tế đất nƣớc phát triển. TTTM là chiếc cầu nối liền giữa các quốc gia trong hoạt động kinh doanh đối ngoại. Hoạt động thanh toán tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thƣơng phát triển, đẩy mạnh quá trình sản xuất lƣu thông hàng hoá, tăng nhanh tốc độ lƣu chuyển vốn, góp phần phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, hoạt động TTTM làm tăng khối lƣợng thanh toán không d ng tiền mặt trong nền kinh tế, đồng thời thu hút một lƣợng ngoại tệ đáng kể vào Việt Nam. * Đối với khách hàng Với sự giúp đ của ngân hàng trong việc hỗ trợ nhu cầu vốn của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể tồn tại và đứng vững trong nền kinh tế thị trƣờng, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho ngƣời lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp đồng thời hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nƣớc. TTTM làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hợp đồng. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu (XK), vốn tài trợ giúp doanh nghiệp mua hàng đúng thời vụ, gia công chế biến và giao hàng đúng thời điểm.
Đối với doanh nghiệp nhập khẩu (NK), vốn tài trợ giúp doanh nghiệp 8 mua đƣợc những lô hàng lớn, giá hạ góp phần nâng cao chất lƣợng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp TTTM của Ngân hàng thƣơng mại làm giảm rủi ro của hoạt động xuất nhập khẩu. Hoạt động xuất nhập khẩu thƣờng diễn ra ở hai nƣớc khác nhau. Do vậy, sự hiểu biết giữa ngƣời mua và ngƣời bán không đƣợc đầy đủ, chính xác. Nhờ sử dụng tín dụng ngân hàng, nhà nhập khẩu và xuẩt khẩu sẽ yên tâm nhận đúng số tiền, hàng của mình thông qua các ngân hàng trung gian đứng ra bảo đảm.
[16] Đặc biệt, nhờ hoạt động TTTM , doanh nghiệp thực hiện đƣợc những thƣơng vụ lớn. Vốn tài trợ của ngân hàng kịp thời, đúng lúc giúp cho doanh nghiệp đảm bảo thực hiện theo hợp đồng từ đó làm cho uy tín của doanh nghiệp đƣợc nâng cao trên thị trƣờng thế giới. Tín dụng xuất nhập khẩu tại các ngân hàng thƣơng mại dựa vào 3 nguyên tắc cơ bản: (1) Sử dụng vốn vay đúng mục đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. (2) Phải hoàn trả nợ gốc và tiền lãi đúng hạn đã thoả thuận.
(3) Tiền vay phải có tài sản tƣơng đƣơng bảo đảm. C ng với sự phát triển của ngoại thƣơng, nhu cầu TTTM của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế ngày càng gia tăng. Nó đòi hỏi ngân hàng ngày càng phải hoàn thiện và phát triển các nghiệp vụ tín dụng đáp ứng nhu cầu của các nhà xuất nhập khẩu và sự biến động của nền kinh tế. Ngân hàng cần nắm bắt đƣợc nhu cầu tài trợ nảy sinh trong hoạt động xuất nhập khẩu để có thể đáp ứng đƣợc nhu cầu của doanh nghiệp và mở rộng hoạt động của mình.
Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động TTTM của Ngân hàng thƣơng mại giúp cho quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng đƣợc tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí. Trong quá trình thực hiện thanh toán, nếu khách hàng không đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng thì ngân hàng sẽ chiết khấu chứng từ xuất khẩu. Qua việc thực hiện thanh toán ngân hàng còn có thể giám sát đƣợc 9 tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để có những tƣ vấn cho khách hàng và điều chỉnh chiến lƣợc khách hàng- Hoạt động TTTM góp phần làm gia tăng nền khách hàng – một trong những mục tiêu hàng đầu và luôn luôn xuất hiện trong các mục tiêu của NHTM. Thu hút thêm các doanh nghiệp có nhu cầu giao dịch quốc tế là cơ sở để NHTM mở rộng quy mô, tăng trƣởng doanh số và tạo vị thế trên thị trƣờng.
* Đối với bản thân Ngân hàng. - Tài trợ xuất nhập khẩu cho các khách hàng có nhu cầu TTTM sẽ tạo ra cơ hội cho NHTM hƣởng đƣợc lợi ích từ nguồn vốn huy động tạm thời nhàn rỗi trên tài khoản của các doanh nghiệp. Đặc biệt, nguồn vốn thời hạn ngắn có lợi nhuận cao hơn nguồn vốn trung dài hạn. - NHTM có thể chủ động đƣợc nguồn ngoại tệ, qua đó sẽ có tỷ giá niêm yết cạnh tranh trên thị trƣờng, điều này lại càng có tác động tích cực đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Qua đó có thể phát triển đƣợc nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, phái sinh, bảo lãnh quốc tế và các nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế khác. - Hoạt động TTTM tăng cƣờng quan hệ của NHTM đối với các Ngân hàng khác trên toàn thế giới, giúp ngân hàng vƣợt ra thị trƣờng nội địa và vƣơn ra tầm quốc tế. CÁC HÌNH THỨC TÀI TRỢ THƢƠNG MẠI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tài trợ xuất khẩu TTTM cho ngƣời xuất khẩu là việc NHTM cung cấp cho vay để giúp doanh nghiệp thực hiện việc sản xuất, kinh doanh, chế biến hàng xuất khẩu.
Mục đích của TTTM xuất khẩu là đẩy mạnh sản xuất trong nƣớc, khuyến khích xuất khẩu. Đây còn là một kênh tái tạo ngoại tệ để phục vụ hoạt động nhập khẩu của ngân hàng. 10 * Tài trợ cho người xuất khẩu qua phương thức nhờ thu kèm chứng từ Sau khi lập xong bộ chứng từ hàng hoá, vận chuyển, bảo hiểm nhà xuất khẩu sẽ nộp lên ngân hàng của mình nhờ thu hộ tiền. Ngân hàng của nhà xuẩt khẩu sẽ chuyển đến ngân hàng của nhà nhập khẩu (hoặc ngân hàng giao dịch) với chỉ thị giao chứng từ khi đã thanh toán (điều kiện D/P) hoặc chấp nhận một hối phiếu đòi nợ k m theo (điều kiện D/A).
Tuy vậy, thời gian để có tiền thanh toán do nhà nhập khẩu trả làm cho xuất khẩu có thể thiếu vốn tạm thời. Nhà xuất khẩu lúc này có thể yêu cầu ngân hàng đáp ứng một phần giá trị bộ chứng từ nhờ thu làm đảm bảo. Tín dụng ứng trƣớc trong phƣơng thức nhờ thu gần giống với chiết khấu chứng từ nhƣng có một số điểm cần phân biệt nhƣ sau: - Ngân hàng không cho vay toàn bộ giá trị hối phiếu mà chỉ đáp ứng trƣớc một phần. - Nhà xuất khẩu không phải chịu tỷ lệ chiết khấu 10% chi phí hối phiếu nhƣ chiết khấu vì nhà xuất khẩu chỉ cần một phần giá trị hối phiếu.
- Tín dụng ứng trƣớc trong phƣơng thức nhờ thu có thể xem nhƣ chiết khấu từng phần, nhà xuất khẩu sử dụng hình thức này để tìm kiếm nguồn tài trợ ngắn hạn phục vụ nhu câu tiền mặt tạm thời. * Tài trợ cho người xuất khẩu qua phương thức tín dụng chứng từ Phƣơng thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thƣ tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (ngƣời yêu cầu mở thƣ tín dụng/ngƣời nhập khẩu) sẽ trả một số tiền nhất định cho một ngƣời khác (ngƣời hƣởng lợi số tiền của thƣ tín dụng/ngƣời xuất khẩu) hoặc chấp nhận hối phiếu do ngƣời này ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi ngƣời này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán ph hợp với những qui định đề ra trong thƣ tín dụng. Đối với ngƣời xuất khẩu, sử dụng phƣơng thức tín dụng chứng từ sẽ đảm 11 bảo việc thu tiền bởi vì L/C là một cam kết của ngân hàng trả tiền cho ngƣời xuất khẩu khi họ thực hiện đúng những điều qui định trong L/C, và nếu có ngân hàng xác nhận tham gia thì việc đảm bảo này là hết sức chắc chắn.