Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN VAY CỦA HỘ GIA ĐÌNH TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.1 Hộ gia đình 1.1 Khái niệm Hộ gia đình (HGĐ) tồn tại hầuohết các nước trên thế giới. HGĐ đã tồn tại qua nhiều phương thức, vẫnođang tiếp tụcophát triển với nhiều quan niệm khác nhau về HGĐ. Trong từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ, hộ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, nhóm người đó bao gồm những người chung huyết tộc và người làm công. (2003), định nghĩa HGĐ được hiểu là household, là hộ bao gồm một hay nhiều người sống trong cùng một mái nhà, các thành viên có cùng chung huyết thống hoặc có cùng môi quan hệ với pháp luật, cùng nhau SXKD.
HGĐ hay còn gọi đơn giản là hộ là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung (nhân khẩu). Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung. HGĐ không đồng nhất với khái niệm gia đình, những trong HGĐ có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai. (Frank Ellis, 1993) Tại Việt Nam, bộ luật dânosự năm 2015 quyođịnh: “HGĐ là các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong gia đình nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực gia đình, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”.
Có thể thấy có rất nhiều khái niệm về HGĐ nhưng đều có hai điểm chung, một là các thành viên có chung huyết thống hoặc cùng sống chung môt mái nhà, hai là cùng góp sức để hoạt động SXKD và tựochịu tráchonhiệm về kết quả hoạtođộng SXKD của mình.2 Đặc điểm hộ gia đình - Về vốn Nguồn vốn của HGĐ chủ yếu là nguồn vốn tự có do các thành viên của HGĐ đóng góp. Để có nguồn vốn đầu tư vào SXKD chủ yếu từ nguồn tự có và vay, mượn bạnobè, ngườiothân hay từ cácotổ chức tàiochính và phi tài chính trong xãohội. Việc tự huy động vốn của HGĐ đểođầu tư và phát triển sản xuất là rất khó khăn do HGĐ chỉ có thểohuy động từ các kênh: vốn tự có và vay mượn. Số lượng thành viên HGĐ thường cố định, ít biến đổi nên nguồn vốn tự có của HGĐ được xác định trước, ít có biến đổi bất thường trừ trường hợp thành viên HGĐ được nhận tài sản thừa kế mà được thỏa thuận làm tài sản chung của hộ.
HGĐ thông thường SXKD nhỏ lẻ, không có phươngoán kinh doanhocụ thể như doanh nghiệp nên khả năng tiếp cận nguồn vốn vay của HGĐ rất khó khăn do phải cóophương án kinhodoanh cụ thể, khả thi mới được ngân hàng chấp nhận cho vay vốn. HGĐ phải chịuotrách nhiệm dânosự về việc thựcohiện quyền, nghĩa vụodân sự do ngườiođại diện của HGĐ xácolập, thực hiệnonhân danh HGĐ. HGĐ chịuotrách nhiệmodân sự bằngotài sản chung củaohộ; nếuotài sản chung không đủođể thựcohiện nghĩaovụ chung của hộ thì các thành viênophải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình. Tài sản chung của HGĐ do các thành viên đóng góp, cùng tạo lập nên hoặc được tăng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ.
- Về lao động Lao động của HGĐ chính là các thành viên của HGĐ chủ yếu dựa trên kinh nghiệm bản thân, thường không thuê đội ngũ người lao động có trình độ tay nghề thành tạo. Bên cạnh đó, do tính chất lao động của HGĐ là các thành viên trong HGĐ tự góp vốn và sức lao động để cùng nhau sản xuất nên trình độ quản lý còn hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp do chủ hộ vừa là người quản lý vừa là người trực tiếp tham gia vào quá trình SXKD gia đình, còn mang nhiều tính “gia đình trị”. Lao động HGĐ tự quản lý, phân công lao động, thời gian cho phù hợp giữa công việc và thời gian của từng thành viên HGĐ, việc phân công này không mang 11 tính bắt buộc, các thành viên trong HGĐ có thể linh hoạt hoán chuyển cho nhau. Chưa có sự tách bạch rõ ràng về công việc, nhiệm vụ giữa các thành viên.
Người quản lý vừa là chủ hộ thiếu kiến thức về kinh tế, xã hội, nắm bắt những thay đổi của thị trường còn chậm, quản lý chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, thiếu kiến thức. Lao động HGĐ thông thường không qua đào tạo, chỉ dựa vàookinh nghiệm củaobản thân và truyền đạt trực tiếp từ người đi trước, người lao động sẽ phản ứng chậm trước sự cố bất thường xảyora trong quáotrình sản xuất, ít có cải tiến trongoquá trình sản xuất. Lao động HGĐ ở Việt Nam chính là các thành viên của HGĐ, thông thường không qua đào tạo, làm việc dựa vào kinh nghiệm được truyền đạt từ người đi trước và đúc kết kinh nghiệm của bản thân. Như vậy, ta thấy rằng đặc trưng cơ bản của HGĐ là sự tự nguyện của từng thànhoviên, trong đó mỗi thành viên vừa là chủ thể gia đình, vừa là người lao động trực tiếp, quá trình lao động dựa vào lao động của HGĐ.
- Về quy mô Quy mô gia đình HGĐ chủ yếu là quy mô nhỏ, do điều kiện về nguồn vốn, khả năng quản lý, sức cjanh tranh trên thị trường… nên HGD rất khó mở rộng quy mô. Thông thường quy mô của HGĐ phụ thuộc vào chu kỳ sống của gia đình. HGĐ thường có quy mô nhỏ ở giai đoạn hình thành mối quan hệ (hôn nhân…) và sau đó quy mô của HGĐ sẽ mở rộng hơn với sự xuất hiện của những thành viên mới trong gia đình (trẻ em…). Theo kết quả tổng điều tra năm 2019, cả nước có 26.079 hộ gia đình, quy mô hộ bình quân phổ biến trên cả nước là 2 - 4 người/hộ, chiếm 65,5% tổng dân số hộ.
Quy mô hộ bình quân khu vực thành thị là 3,3 người/hộ, thấp hơn khu vực nông thôn 0,3 người/hộ. (Nguyễn Quốc Anh, 2020) - Về khả năng tiếp cận thông tin thị trường Một trong những yếu tố làm cho khả năng cạnh tranh của HGĐ bị hạn chế là tình trạng thiếu thông tin thị trường về sản phẩm, thị trường công nghệ, máy móc 12 thiết bị nên sự cải tiến về phương thức gia đình cũng như sản phẩm chưa thích ứng kịp với sự thay đổi của thị trường. Mặt khác, HGĐ thường không kịp thời cập nhật, nắm bắt những biến động của tình hình kinh tế - chính trị - xã hội nên HGĐ thường phản ứng chậm trước sự biến đổi của thị trường. - Về ngành nghề hộ gia đình HGĐ hoạt động kinh doanh trong nhiều ngành nghề: nông - lâm - ngư - diêm nghiệp - dịch vụ - tiểu thủ công nghiệp.
Gắn với mỗi ngành nghề sẽ chịu những tác động khác nhau từ môi trường bên ngoài từ đó tác động đến khả năng trả nợ vay của HGĐ. HGĐ tại Việt Nam SXKD ở hầu hết các ngành nghề. Tuy hiện tại tỷ trọng HGĐ nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao nhưng đã có sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại, điều này thể hiện ở sự giảm xuống khá nhanh cả về số lượng và tỷ trọng của nhóm HGĐ nông - lâm - thủy sản và sự tăng lên của nhóm HGĐ công nghiệp - xây dựng - dịch vụ.2 Tín dụng Tín dụngolà một phạmotrù kinh tế của nền kinhotế hàng hóa, nó phản ánh quan hệokinh tế giữaongười sở hữu và người sử dụng các nguồn vốnotiền tệ tạm thờionhàn rỗi trongonền kinh tếođể thực hiện các kế hoạchosản xuất, kinhodoanh theo nguyên tắc hoàn trả vốn và kèm theo lợi tức khi đến hạn. Có nhiềuohình thứcotín dụng, nhưng trong điềuokiện hiện nayoở nước ta, tín dụngongân hàng là hình thức phổ biếnovà được áp dụngorộng rãi.
Tínodụng ngân hàngolà quan hệ tín dụngogiữa ngân hàng, các tổochức tín dụng khácovới các doanh nghiệp và cáonhân, nó là một nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ của ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả vốn và có lãi. Đây cũng là hình thức tín dụng kinh tế hộ, là khoản choovay của ngân hàngonông nghiệpovà phát triển nông thônođối với hộ nông dânotrên từng địaobàn để phátotriển sản xuất, kinhodoanh, xóaođói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người lao động. 13 Khó có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng về tín dụng. Vì vậy, tùy theoogóc độ nghiênocứu mà chúng ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này.
Danh từ tín dụng xuấtophát từ gốcoLatinh Credit có nghĩa là một sự tínonhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin. Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa kháconhau; ngay cả trong quanohệ tàiochính, tùy theo từng bồi cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Trong quan hệotài chính, tínodụng có thể hiểuotheo các nghĩaosau: - Xét trênogóc độ chuyểnodịch quỹ choovay từ chủ thểothặng dư tiếtokiệm áng chủ thểothiếu hụt tiếtokiệm thì tín dụngođược coi là phươngopháp chuyển dịchoquỹ từ ngườiocho vay sang ngườiođi vay. - Trong mộtoquan hệ tài chínhocụ thể, tín dụng làomột quan hệ giaoodịch về tài sảnotrên cơ sở cóohoàn trả giữaohai chủ thể.
Như mộtocông ty công nghiệpohoặc thươngomại bán hàng trảochậm cho mộtocông ty khác, trong trườngohợp nàyongười bán chuyểnogiao hàng hóaocho bên muaovà sau một thờiogian nhất địnhotheo thỏa thuận bênomua phải trả tiềnocho bên bán. Phổ biếnohơn cả là giaoodịch giữaongân hàng vàocác định chế tàiochính khác với cácodoanh nghiệp và cáonhân thể hiệnodưới hình thứcocho vay, tức là ngânohàng cần tiềnocho bên đi vayovà sau một thờiohạn nhất địnhongười đi vay phảiothanh toán cả gốcolẫn lãi. - Tín dụngocòn có nghĩa làomột số tiền choovay mà cácođịnh chế tàiochính cung cấpocho khách hàng (Hồ Diệu, 2000) Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên cơ sở có hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Như vậy, tínodụng là mối quan hệokinh tế giữaongười cho vay và người đi vay thôngoqua sự vận động của giáotrị, vốn tín dụngođược biểu hiệnodưới hình thức tiềnotệ hàng hóa.
Quáotrình đó được thể hiện qua 3 giai đoạn sau: - Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay. Ở giai đoạn này, giá trị vốn tin dụng được chuyển sang người đi vay, ở đây chỉ cóomột bên nhậnođược giá trị, và cùng chỉomột bên nhượngođi giá trị. 14 - Sử dụngovốn tín dụngotrong quá trìnhotái sản xuất. Người đi vay sauokhi nhận được giá trị vốn tínodụng, họ đượcoquyền sử dụng giáotrị đó để thỏaomãn nhu cầu đầu tư SXKD hoặc tiêu dùng của mình.
Tuy nhiên, người đi vay chỉ được sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định mà không được quyền sở hữu về giá trị đó.