CHƯƠNG 1 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỐ TỤNG TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN THẾ CHẤP TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Trong những năm qua cùng với những thành tựu đạt được của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa kéo theo đó là nhiều quan hệ xã hội phức tạp, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, dân sự, hành chính, hôn nhân và gia đình…. Quốc hội đã ban hành, sửa đổi nhiều Bộ luật, Luật chuyên ngành để điều chỉnh các quan hệ xã hội như Luật đất đai 2013, Luật hôn nhân và gia đình 2014, Bộ Luật dân sự 2015, Luật kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật doanh nghiệp 2014, đặc biệt để phù hợp và cụ thể hoá Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 Quốc hội đã thông qua Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá 13. Bộ luật tố tụng dân sự 2015 được ban hành với nhiều chế định sửa đổi, bổ sung mới so với Bộ Luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011. Bộ luật tố tụng dân sự 2015 là cơ sở pháp lý để Toà án áp dụng trong giải quyết các tranh chấp tại Toà án.
Nhìn chung sau 05 năm thi hành, các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu chung của công tác thụ lý, giải quyết, xét xử các vụ án dân sự, tạo hành lang pháp lý cho quá trình tiến hành tố tụng, đồng thời tạo điều kiện khá tốt cho người tham gia tố tụng thực hiện, bảo vệ quyền,lợi ích hợp pháp của mình, phục vụ tốt yêu cầu đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa và chất lượng xét xử các tranh chấp dân sự, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân, góp phần bảo vệ công lý. Công tác giải quyết tranh chấp liên quan đến thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất nói riêng trong thời gian vừa qua đã được Tòa án thực hiện tốt nhờ việc áp dụng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự 2015. Các quy định về tố tụng trong giải quyết các tranh chấp liên quan đến thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất được quy định cụ thể, rõ ràng như: về thẩm quyền giải quyết tranh chấp, thời hiệu khởi kiện, quy định về thụ lý vụ án, công tác hòa giải, xét xử, kháng cáo, kháng nghị…. Tuy nhiên, bên cạnh những kết 7 quả đạt được khi áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Ba Tri còn gặp một số khó khăn, vướng mắc, cần được đưa ra phân tích, đánh giá tìm nguyên nhân và giải pháp khắc phục.
Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất. Xác định thẩm quyền giải quyết vụ án của Toà án là một trong những yêu cầu quan trọng trong việc kiểm tra điều kiện thụ lý vụ án dân sự. Trong giải quyết tranh chấp liên quan đến thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất (QSDĐ) cần xác định đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, cụ thể như sau: Thẩm quyền Toà án theo loại việc, thẩm quyền của Toà án theo cấp xét xử, thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ và sự lựa chọn của nguyên đơn. Thẩm quyền theo loại việc của Toà án Xác định đúng thẩm quyền theo loại việc của Toà án có ý nghĩa quan trọng trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Thẩm quyền theo loại việc của Toà án trong giải quyết tranh chấp liên quan đến thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất được quy định tại các Điều 26, Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Khi xác định thẩm quyền theo loại việc đối với tranh chấp liên quan đến thế chấp tài sản là QSDĐ ngoài việc căn cứ vào quy định của BLTTDS để xác định thẩm quyền theo loại việc, Toà án căn cứ vào hướng dẫn tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ- HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Theo đó, chỉ có tranh chấp ai là người có QSDĐ mới là tranh chấp đất đai theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai (LĐĐ), còn các tranh chấp khác không phải là tranh chấp đất đai. Tranh chấp liên quan đến thế chấp tài sản là QSDĐ các bên chỉ tranh chấp đối với việc thế chấp QSDĐ, không phải tranh chấp ai là chủ sử dụng đối với QSDĐ thế chấp.
Từ đó khẳng định tranh chấp liên quan đến thế chấp tài sản là QSDD là tranh chấp về giao dịch liên quan đến QSDĐ, không phải là tranh chấp đất đai, thẩm quyền giải quyết tranh chấp là thuộc về Toà án nhân dân. 8 Ngoài ra, khi kiểm tra thẩm quyền theo loại việc Thẩm phán phải xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp đó là tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự hay kinh doanh thương mại để từ đó áp dụng các quy định của pháp luật nội dung nào để giải quyết. Khi xác định thẩm quyền của Tòa án cần phải xem xét đến trường hợp tranh chấp này có thuộc vào khoản 1 Điều 30 BLTTDS quy định những tranh chấp về kinh doanh, thương mại “Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận1” hay không. Nếu các bên tranh chấp có đăng ký kinh doanh và cùng có mục đích lợi nhuận thì xác định đây là tranh chấp về kinh doanh thương mại thì Tòa án sẽ thụ lý vụ án kinh doanh thương mại.
Nếu không thoả mãn điều kiện thụ lý vụ án kinh doanh thương mại thì Toà án sẽ thụ lý vụ án dân sự theo khoản 3, Điều 26 BLTTDS là “Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự2”. Để thấy rõ việc xác định thẩm quyền theo loại việc phân tích tình huống sau: Tình huống 1 (Nội dung xem phụ lục 1) Bản án kinh doanh thương mại số: 03/2017/KDTM-ST ngày 29-9-2017 và 27-10-2017 của Tòa án nhân dân (TAND) huyện Ba Tri về việc“T/c Hợp đồng tín dụng + Y/c hủy hợp đồng thế chấp tài sản”: Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) công thương Việt Nam khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Huỳnh Thị Thế thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 26/4/2016 là 200.877 đồng, gồm: nợ gốc 60.084 đồng (trong đó: lãi trong hạn 93.390 đồng, lãi quá hạn 46. Trường hợp bà Thế không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, NHTMCP công thương Việt Nam có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi để thu hồi khoản nợ nêu trên là tài sản bảo đảm của bà Trần Thị Lài đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 11.0181/HĐTC/05 ngày 31/3/2011 gồm QSDĐ 579 m2 1 Khoản 1 Điều 30 BLTTDS năm 2015 2 Khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015 9 thuộc thửa số 11, tờ bản đồ 9 và tài sản gắn liền trên đất, tọa lạc tại xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo giấy chứng nhận QSDĐ số vào sổ cấp GCN số: BA 160306, do UBND thành phố Bến Tre cấp ngày 01/02/2010. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Lài có đơn khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp số 11.0181/HĐTC/05 ngày 31/3/2011 giữa NHTMCP công thương Việt Nam và bà Trần Thị Lài do bà Lài không có ký hợp đồng thế chấp để bảo lãnh cho bà Huỳnh Thị Thế vay số tiền 450.000đ tại NHTMCP công thương Việt Nam, đồng thời yêu cầu Ngân hàng trả lại cho bà Lài giấy chứng nhận QSDĐ số BA 160306 thửa số 11, tờ bản đồ số 9, xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre.
Qua tình huống ta thấy: NHTMCP công thương Việt Nam khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Huỳnh Thị Thế trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa NHTMCP công thương Việt Nam với bà Thế, đồng thời yêu cầu phát mãi tài sản của bà Lài nếu bà Thế không trả được tiền cho Ngân hàng; Bà Lài có yêu cầu huỷ hợp đồng thế chấp ký kết giữa bà Lài và Ngân hàng. Đối với yêu cầu của Ngân hàng là yêu cầu trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng nên Toà án xác định loại việc tranh chấp hợp đồng tín dụng là phù hợp. Đối với yêu cầu huỷ hợp đồng thế chấp QSDĐ của bà Lài, mặc dù bà Lài yêu cầu huỷ hợp đồng thế chấp QSDĐ, tuy nhiên, bà chỉ yêu cầu xem xét về hiệu lực của hợp đồng thế chấp có liên quan đến thế chấp tài sản là QSDĐ, bà không tranh chấp ai có quyền sử dụng đối với QSDĐ thế chấp, nên TAND huyện Ba Tri thụ lý xác định đây là vụ án tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự liên quan đến QSDĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là phù hợp. NHTMCP công thương Việt Nam có đăng ký kinh doanh cho bà Thế vay tiền vì mục đích lợi nhuận, bà Thế tuy vay tiền để đầu tư ghe cào vì mục đích lợi nhuận nhưng bà lại không có đăng ký kinh doanh và việc bà Lài thế chấp cho bà Thế vay tiền không có mục đích lợi nhuận nhưng Toà án huyện Ba Tri xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại là không đúng quy định tại Khoản 1 Điều 30 BLTTDS mà cần xác định đây là vụ án dân sự “tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật TTDS.
10 Tình huống 2 (Nội dung xem phụ lục 2) Bản án dân sự sơ thẩm số: 73/2017/DS-ST ngày 12, 13-9-2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng chuyển nhượng và tặng cho quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” như sau: Ngày 17/4/2012, ông Nguyễn Văn Dũng và bà Nguyễn Thị Hiếu có cho bà Trần Thị Kim Liên vay số tiền 280.000đ, lập hợp đồng vay tại Văn Phòng công chứng, bà Liên có thế chấp thửa đất số 88 tờ bản đồ số 10, thửa số 207 tờ bản đồ số 04 với tổng diện tích 4.748m2 được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Ba Tri cấp giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho hộ bà Trần Thị Kim Liên vào ngày 29/8/2007, thời hạn cho vay 12 tháng, lãi suất 2. Trước ngày 06/9/2013, bà Liên có vay thêm số tiền 85.000đ và đến ngày 06/9/2013, bà Liên vay thêm số tiền 45.000đ mới tổng cộng thành 130.000đ và cộng với tiền vay ngày 17/4/2012 thành số tiền vay 410.000đ, thời gian đóng lãi vào cuối tháng, đến hạn không đóng lãi thì được nhập thành nợ gốc.