Chương I: Vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp. Chương II: Thực trạng về vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH Dược thảo Phúc Vinh. Chương III: Những phương hướng và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH Dược thảo Phúc Vinh. Vì thời gian và hiểu biết còn hạn chế nên chuyên đề không tránh khỏi những sai sót.
Em mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và các anh chị trong Công ty để Em có thể mở rộng hiểu biết của mình. Em xin chân thành cảm ơn! Cung ThÞ BÝch Ngäc Líp tµi chÝnh A – K38 §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n 3 B¸o c¸o chuyªn ®Ò thùc tËp CHƢƠNG I : VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI DOANH NGHIỆP I, Tầm quan trọng của vốn trong nền kinh tế thị trƣờng: Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải nắm giữ được lượng vốn nào đó. Số vốn này thể hiện toàn bộ quyền quản lý và sử dụng tại doanh nghiệp, tại một thời điểm nhất định. Vốn được đưa vào sản xuất kinh doanh được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.
Nó bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình cũng như mọi kiến thức tích lũy của doanh nghiệp, sự khéo léo, trình độ quản lý và tác nghiệp của lãnh đạo, nhân viên. Khái niệm về vốn kinh doanh. Vốn là một phạm trù kinh tế, điều kiện kiên quyết cho bất cứ doanh nghiệp, ngành nghề kỹ thuật, kinh tế, dịch vụ nào trong nền kinh tế thuộc hình thức sở hữu khác nhau. Trong các doanh nghiệp kinh doanh nói chung, doanh nghiệp y tế nói riêng, vốn sản xuất là hình thái giá trị của toàn bộ nền sản xuất được doanh nghiệp sử dụng một cách hợp lý có kế hoạch vào việc sản xuất những sản phẩm của doanh nghiệp.
Có nhiều khái niệm về vốn kinh doanh, tuy nhiên khái niệm được nhiều người ủng hộ là: vốn kinh doanh là số vốn được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, số vốn này được hình thành từ khi thành lập doanh nghiệp(do chủ sở hữu đóng góp ban đầu) và bổ sung thêm trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Như vậy, vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Tài sản bằng hiện vật: nhà cửa, kho tàng, cửa hàng… Tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc… Bàn quyền sở hữu công nghệ… Tất cả tài sản này được quy ra tiền Việt Nam. Mọi doanh nghiệp khi tiến Cung ThÞ BÝch Ngäc Líp tµi chÝnh A – K38 §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n 4 B¸o c¸o chuyªn ®Ò thùc tËp hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải trải qua chu trình như sau: Hàng hóa Hàng hóa Đầu vào … Sản xuất kinh doanh…Đầu ra Dịch vụ Dịch vụ Để sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có một khoản tiền ứng trước vì doanh nghiệp cần có nguồn nguyên liệu đầu vào để sản xuất ra hàng hoá phục vụ cho quá trình kinh doanh của mình, tuy nhiên các nhu cầu thể hiện dưới hình thức khác nhau. Các loại vốn kinh doanh Có rất nhiều cách phân loại vốn kinh doanh, tùy theo những góc độ khác nhau: a.
Đứng trên góc độ pháp luật, vốn của doanh nghiệp bao gồm: *Vốn pháp định: là số vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp do pháp luật quy định đối với từng ngành nghề và từng loại hình sở hữu doanh nghiệp. Dưới mức vốn pháp định thì không đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp. * Vốn điều lệ: là số vốn do các thành viên đóng góp và ghi vào điều lệ của doanh nghiệp. Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp, theo từng ngành nghề, vốn điều lệ không được thấp hơn vốn pháp định.
Đứng trên góc độ hình thành vốn, vốn của doanh nghiệp bao gồm: * Vốn đầu tư ban đầu: Là số vốn phải có từ khi hình thành doanh nghiệp. * Vốn bổ sung: Là số vốn tăng thêm do bổ sung từ lợi nhuận, do nhà sản xuất bổ sung bằng phân phối lại nguồn vốn, do sự đóng góp của các thành viên, do bán trái phiếu. * Vốn liên doanh: Là vốn do các bên cùng cam kết liên doanh với nhau để Cung ThÞ BÝch Ngäc Líp tµi chÝnh A – K38 §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n 5 B¸o c¸o chuyªn ®Ò thùc tËp hoạt động. * Vốn đi vay: Trong hoạt động kinh doanh, ngoài số vốn tự có và coi như tự có, doanh nghiệp còn phải sử dụng một khoản đi vay khá lớn của ngân hàng.
Ngoài ra còn có khoản vốn chiếm dụng lẫn nhau giữa các đơn vị nhà cung cấp, khách hàng và bạn hàng. Đứng trên góc độ chu chuyển vốn người ta chia ra toàn bộ vốn của doanh nghiệp thành hai loại vốn : vốn cố định và vốn lưu động. * Vốn lưu động: là biểu hiện bằng tiền của tải sản lưu động. *Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định.
Tài sản cố định dùng trong kinh doanh tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh nhưng về mặt giá trị thì có thể thu hồi sau nhiều kỳ kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động trao đổi hàng hóa dịch vụ giữa các đơn vị kinh tế thông qua trung gian tiền tệ. Tương ứng với dòng vật chất đi vào là dòng tài chính đi ra và ngược lại. Ta có sơ đồ sau: Dòng vật chất đi vào Dòng tài chính đi ra Tài sản hoặc vốn Quá trình chuyển hoá hay sản xuất kinh doanh Dòng vật chất đi ra Dòng tài chính đi vào Ở đây các dòng vật chất được biểu diện bằng tiền.
Song các dòng chỉ xuất hiện trên cơ sở tích lũy ban đầu như hàng hóa, dịch vụ hay tiền tệ trong mỗi đơn vị kinh tế và các dòng sẽ làm thay đổi khối lượng tài sản kinh tế được tích lũy lại. Một khối lượng tài sản hàng hóa hoặc tiền tệ được đo tại một thời điểm nhất định tạo thành vốn kinh tế và được phản ánh vào bên tài khoản của bảng tổng hợp tài sản doanh nghiệp. Cung ThÞ BÝch Ngäc Líp tµi chÝnh A – K38 §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n 6 B¸o c¸o chuyªn ®Ò thùc tËp 3. Các bộ phận cấu thành vốn của doanh nghiệp Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được cấu thành bởi hai bộ phận đó là: vốn cố định và vốn lưu động.
Tùy theo từng loại hình của doanh nghiệp và tùy theo công nghệ sản xuất và trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật mà có tỷ lệ vốn hợp lý. Việc xác định cơ cấu ở từng doanh nghiệp là yếu tố quan trọng nó thể hiện trình độ quản lý và sử dụng vốn ở mỗi doanh nghiệp. Vốn cố định là toàn bộ giá trị tài sản của mỗi doanh nghiệp. Tài sản cố định là những tư liệu lao động có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản cố định bị hao mòn dần và giá trị của nó được dịch chuyển từng phần vào chi phí kinh doanh. Khác với đối tượng lao động, tài sản cố định tham gia nhiều vào chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu đến lúc hỏng. Theo quy định hiện hành của Việt Nam tài sản cố định bao gồm hai loại: * Tài sản cố định hữu hình: Tài sản cố định hữu hình là tư liệu lao động chủ yếu, có hình thái vật chất, có giá trị lớn thời gian sử dụng lâu dài và tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu. Ví dụ: nhà cửa, thiết bị, máy móc….
Tiêu chuẩn nhất định để nhận biết tài sản cố định hữu hình: mọi tư liệu lao động là tài sản cố định có kết cấu độc lập hoặc là hệ thống bao gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất cứ bộ phận nào thì cả hệ thống không hoạt động được, nếu đồng thời thoả mãn cả hai nhu cầu sau: Có thời gian sử dụng từ năm năm trở lên. Có thời gian sử dụng từ năm triệu đồng trở lên. Trường hợp có một hệ thống gồm nhiều tài sản riêng lẻ liên kết với nhau trong mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một Cung ThÞ BÝch Ngäc Líp tµi chÝnh A – K38 §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n 7 B¸o c¸o chuyªn ®Ò thùc tËp bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó, mà yêu cầu quản lý đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản đó được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập. Ví dụ như: khung và động cơ trong một chiếc ô tô.
*Tài sản cố định vô hình: là những tài sản cố định không có hình thái vật chất thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ: chi phí sử dụng đất, chi phí bằng phát minh sáng chế… Tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định vô hình: mọi khoản chi phí thực tế doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời thoả mãn cả hai điều kiện trên mà không thành tài sản cố định hữu hình thì coi như là tài sản cố định vô hình. Theo chế độ hiện hành doanh nghiệp phân loại tài sản cố định theo tính chất của tài sản cố định cụ thể là: *Tài sản cố định dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh gồm: + Tài sản cố định hữu hình. + Tài sản cố định vô hình.
* Tài sản cố định cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp an ninh quốc phòng. * Tài sản cố định doanh nghiệp bảo quản giữ hộ cho đơn vị khác hoặc giữ hộ nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuỳ theo yêu cầu quản lý doanh nghiệp tự phân loại chi tiết các tài sản cố định theo từng nhóm cho phù hợp. Việc nghiên cứu cơ cấu vốn cố định có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình quản lý và sử dụng vốn cố định.
Vấn đề cơ bản là phải xây dựng một cơ cấu vốn nói chung và cơ cấu vốn cố định nói riêng cho phù hợp, hợp lý với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất, phù hợp với trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và trình độ quản lý để tạo điều kiện tiền đề cho việc sử dụng và quản lý Cung ThÞ BÝch Ngäc Líp tµi chÝnh A – K38 §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n 8 B¸o c¸o chuyªn ®Ò thùc tËp vốn một cách hợp lý và hiệu quả nhất.