LỜI MỞ ĐẦU Vốn đƣợc coi là một trong bốn nguồn lực của nên kinh tế quốc dân: nhân lực, vốn, kỹ thuật công nghệ và tài nguyên. Trong nền kinh tế thị trƣờng, các doanh nghiệp muốn sản xuất đƣợc phải có một lƣợng vốn nhất định, đó tiền đề cần thiết giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc diễn ra. Vốn quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trƣờng, các doanh nghiệp luôn phải đứng trƣớc sự cạnh tranh gay gắt và để thắng trong cuộc cạnh tranh đó họ phải chuẩn bị tốt về năng lực tài chính, khoa học công nghệ và năng lực quản lý.
Việc đảm bảo kịp thời vốn cho sản xuất, đầu tƣ đổi mới công nghệ ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời, khi hiệu quả kinh doanh cao sẽ góp phần tạo ra nguồn tài trợ lớn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực trạng nền kinh tế nƣớc ta hiện nay cho thấy bên cạnh những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, còn không ít những doanh nghiệp đang ở trong tình trạng thiếu vốn và hiệu quả sử dụng vốn thấp. Cũng nằm trong tình trạng chung đó doanh nghiệp nhà nƣớc với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhƣng do ảnh hƣởng của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp nên công tác sử dụng vốn vẫn còn nhiều bất cập gây nên tình trạng không bảo toàn đƣợc nguồn vốn, làm mất vốn sau mỗi chu kỳ kinh doanh.
Nhƣ thế hơn bao giờ hết việc nghiên cứu, phân tích thực trạng sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nƣớc nói riêng hiện nay là rất cần thiết. Trên cơ sở đó xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn góp phần thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay. Ý thức đƣợc tầm quan trọng đó, đồng thời kết hợp những kiến thức đã đƣợc lĩnh hội làm cơ sở lý luận với những hiểu biết thực tế tại nơi làm việc 6 hiện tại, tôi đã lựa chọn đề tài “Hiệu quả sử dụng vốn của công ty thông tin di động VMS”. Quá trình nghiên cứu đề tài tôi có sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ: phƣơng pháp phân tích tổng hợp, lý luận, phƣơng pháp thống kê, phân tích so sánh và một số phƣơng pháp khác.
Kết cấu luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng về vốn và hiệu quả sử dụng vốn của công ty thông tin di động VMS Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty thông tin di động VMS 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp 1. Khái niệm và phân loại vốn 1. Khái niệm vốn Để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, doanh nghiệp cũng cần phải có vốn.
Vốn là điều kiện tiên quyết và có ý nghĩa quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để nâng cao hiệu quả của đồng vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trƣớc hết chúng ta cần hiểu rõ khái niệm về vốn. Theo giáo trình tài chính học của trƣờng Đại học Tài chính Kế toán Hà Nội: “vốn kinh doanh là một loại quĩ tiền tệ đặc biệt”. Tiền đƣợc gọi là vốn khi đồng thời thoả mãn các điều kiện sau: Một là: Tiền phải đại diện cho một lƣợng hàng hoá nhất định.
Hay nói cách khác, tiền phải đƣợc đảm bảo bằng một lƣợng tài sản có thực. Hai là: Tiền phải đƣợc tập trung tích tụ đến một lƣợng nhất định. Ba là: Khi có đủ lƣợng, tiền phải đƣợc vận động nhằm mục đích sinh lời. Trong đó: điều kiện 1 và 2 đƣợc coi là điều kiện ràng buộc để tiền trở thành vốn; điều kiện 3 đƣợc coi là đặc trƣng cơ bản của vốn- nếu tiền không vận động thì đó là đồng tiền “chết”, còn nếu vận động không vì sinh lời thì cũng không phải là vốn.
Cách vận động và phƣơng thức vận động của vốn do phƣơng thức đầu tƣ kinh doanh quyết định. Trên thực tế có 3 phƣơng thức vận động của vốn: T-T': Là phƣơng thức vận động của vốn trong các tổ chức chu chuyển trung gian và các hoạt động đầu tƣ cổ phiếu, trái phiếu. T-H-T': Là phƣơng thức vận động của vốn trong các doanh nghiệp thƣơng mại, dịch vụ. 8 T-H-SX-H'-T': Là phƣơng thức vận động của vốn trong các doanh nghiệp sản xuất.
ở đây, chúng ta đi sâu nghiên cứu phƣơng thức vận động của vốn trong các doanh nghiệp sản xuất. Do sự luân chuyển không ngừng của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên cùng một lúc vốn kinh doanh của doanh nghiệp thƣờng tồn tại dƣới nhiều hình thái khác nhau trong lĩnh vực sản xuất và lƣu thông. Sự vận động liên tục không ngừng của vốn tạo ra quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn, trong chu trình vận động ấy tiền ứng ra đầu tƣ (T) rồi trở về điểm xuất phát của nó với giá trị lớn hơn (T’), đó cũng chính là nguyên lý đầu tƣ, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn. Từ những phân tích trên đây, ta có thể đi đến định nghĩa tổng quát về vốn: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản đƣợc đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”.
Phân loại vốn Để đạt đƣợc hiệu quả cao trong quá trình quản lý và sử dụng vốn thì việc phân loại vốn là hết sức cần thiết. Tuỳ theo từng tiêu thức mà ngƣời ta có thể chia vốn thành các loại khác nhau. Dƣới đây là một số cách phân loại cơ bản nhất. Căn cứ về mặt pháp lý Theo quy định của pháp luật hiện hành, vốn đƣợc phân biệt dƣới hai dạng tên gọi: - Vốn pháp định: là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật đối với từng ngành nghề, từng lĩnh vực kinh doanh và từng loại hình doanh nghiệp.
- Vốn điều lệ: là số vốn do các thành viên đóng góp thực tế và đƣợc ghi vào Điều lệ của doanh nghiệp. Quy mô vốn điều lệ lớn hay nhỏ tuỳ 9 thuộc vào ngành nghề kinh doanh, cũng nhƣ hình thức sở hữu vốn nhƣng không đƣợc phép thấp hơn vốn pháp định. Căn cứ vào nguồn hình thành * Vốn tự có: là phần vốn đƣợc hình thành nên do Nhà Nƣớc cấp, do doanh nghiệp tự bổ xung từ lợi nhuận, do phát hành trái phiếu và nguồn vốn bên trong do các liên doanh đóng góp. Ngoài ra, các quỹ và nguồn vốn ĐTXDCB, nguồn kinh phí cũng đƣợc coi nhƣ vốn tự có của doanh nghiệp.
Việc sử dụng loại vốn này tốn ít hoặc không tốn chi phí. Vốn này có thể do một hoặc nhiều chủ sở hữu nắm giữ. * Vốn huy động: là phần vốn mà doanh nghiệp huy động từ các bạn hàng (dƣới hình thức tín dụng thƣơng mại), các định chế tài chính (các ngân hàng, các công ty tài chính.), các cá nhân và các tổ chức (dƣới hình thức trái phiếu.) nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nếu nhu cầu về vốn lớn hơn khả năng đáp ứng của vốn tự có. Tuy nhiên, việc sử dụng loại vốn này cần một chi phí đáng kể gọi là chi phí vốn (lãi suất).
Chi phí này chính là cái giá doanh nghiệp phải trả để có quyền sử dụng vốn của ngƣời khác. Căn cứ vào phương thức tuần hoàn và chu chuyển vốn Tuy nhiên, xét một cách tổng thể, để phân tích hiệu quả sử dụng vốn thì cần căn cứ vào vai trò và đặc điểm chu chuyển vốn trong qúa trình sản xuất kinh doanh. Dựa vào tiêu chí này, toàn bộ vốn kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc chia thành hai bộ phận: vốn cố định và vốn lƣu động.Vốn cố định: Khái niệm: Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận vốn đầu tƣ ứng trƣớc về tài sản cố định, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng luân chuyển khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng. * Đặc điểm: - Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất - Vốn cố định dịch chuyển giá trị dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất, sau thời gian dài vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển vốn.
- Vốn cố định là một bộ phận quan trọng thƣờng chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ vốn kinh doanh của doanh nghiệp, đặc điểm của nó lại tuân theo tính qui luật riêng, do đó việc quản lý và sử dụng vốn cố định có ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Vốn lƣu động: Khái niệm: Vốn lƣu động trong doanh nghiệp là số tiền ứng trƣớc về tài sản lƣu động sản xuất và tài sản lƣu động lƣu thông nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, liên tục. Đặc điểm: Vốn lƣu động của doanh nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau: - Vốn tiền tệ ứng ra luôn vận động - Do vận động vốn luôn thay đổi hình thái vận động - Đồng thời tồn tại dƣới mọi hình thái - Hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu trình sản xuất. Phân loại tài sản cố định: 11 Phân loại tài sản cố định là việc phân chia toàn bộ tài sản cố định hiện có của doanh nghiệp theo tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho những yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. - Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện: theo tiêu thức này tài sản cố định đƣợc phân làm 2 loại: + Tài sản cố định có hình thái vật chất: là những tài sản cố định hữu hình đƣợc biểu hiện bằng tiền với giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhƣng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu nhƣ: nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị.
+ Tài sản cố định không có hình thái vật chất: là những tài sản cố định vô hình đƣợc thể hiện bằng một lƣợng giá trị đã đƣợc đầu tƣ có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp nhƣ: Chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về bằng phát minh sáng chế, bản quyền tác giả, chi phí sử dụng đất.