phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục làm 3 chương: Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG VỐN Ở CÔNG TY GIẤY TISSUE SÔNG ĐUỐNG - TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 2004 - 2008. 7 Chƣơng 3: CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN Ở CÔNG TY GIẤY TISSUE SÔNG ĐUỐNG - TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm vốn Vốn là điều kiện tiên quyết và có ý nghĩa quyết định để tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vốn.
Theo lý thuyết kinh tế cổ điển, vốn là một trong các yếu tố đầu vào để sản xuất kinh doanh. Vốn bao gồm các sản phẩm lâu bền được chế tạo để sử dụng trong sản xuất kinh doanh như máy móc, thiết bị, nhà cửa, sản phẩm … Quan điểm này nhìn nhận vốn dưới góc độ hiện vật là chủ yếu.Samuelson và William D.Nordhaus trong kinh tế học: Vốn là khái niệm thường dùng để chỉ các hàng hoá làm vốn nói chung, một nhân tố sản xuất. Một hàng hoá làm vốn khác với nhân tố sơ yếu (đất đai, lao động) ở chỗ nó là một đầu vào mà bản thân là một đầu ra của một nền kinh tế gồm: vốn vật chất (nhà xưởng, thiết bị, kho tàng …); vốn tài chính (tiền, chứng khoán…). Theo quan điểm này vốn bao gồm hai loại là vốn vật chất và vốn tài chính.
8 Trong bộ “Tư bản” Các Mác đã khái quát hoá phạm trù vốn thông qua phạm trù tư bản. Theo Các Mác: Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư qua quá trình vận động của nó. Như vậy: Vốn là giá trị toàn bộ tài sản doanh nghiệp dùng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Đặc trưng của vốn Vốn có những đặc trưng cơ bản sau đây: - Vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản có nghĩa là vốn phải đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và vô hình như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn …; quyền sử dụng đất, nhãn hiệu hàng hoá, quyền phát hành, phần mềm máy vi tính, bản quyền, bằng sáng chế, giấy phép nhượng quyền ….
- Vốn phải được vận động nhằm mục đích sinh lời. Trong quá trình vận động vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị - là tiền. Đồng tiền phải quay trở về nơi xuất phát với giá trị lớn hơn. - Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định nào đó mới có thể phát huy tác dụng: Muốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, vốn phải được tập trung thành một lượng đủ lớn để mua sắm máy móc thiết bị, nguyên vật liệu cho sản xuất và chủ động cho các phương án sản xuất kinh doanh.
Muốn làm được điều đó các doanh nghiệp không chỉ khai thác các tiềm năng về vốn của mình mà phải tìm cách thu hút vốn từ nhiều nguồn khác như phát hành cổ phiếu, trái phiếu, huy động từ vốn liên doanh liên kết. 9 - Vốn có giá trị về mặt thời gian: Một đồng hôm nay có giá trị hơn giá trị đồng tiền ngày hôm sau do giá trị của đồng tiền chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: giá cả, lạm phát, chính trị. Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung vấn đề này không được xem xét kỹ lưỡng vì Nhà nước đã tạo ra sự ổn định của đồng tiền một cách giả tạo trong nền kinh tế. Trong điều kiện kinh tế thị trường cần phải xem xét về yếu tố thời gian của đồng vốn bởi do ảnh hưởng sự biến động của giá cả thị trường, lạm phát nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau là khác nhau.
Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đầu tư vốn và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn. - Vốn luôn gắn với chủ sở hữu nhất định: Mỗi đồng vốn đều có chủ sở hữu nhất định, nghĩa là không có những đồng vốn vô chủ. Tùy theo hình thức đầu tư mà người chủ sở hữu vốn và người sử dụng vốn có thể đồng nhất hoặc tách rời. Song, dù trường hợp nào đi chăng nữa, người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và phải được tôn trọng quyền sở hữu vốn của mình.
Có thể nói đây là một nguyên tắc cực kỳ quan trọng trong việc huy động, quản lý và sử dụng vốn. Nó cho phép huy động được vốn nhàn rỗi trong dân cư vào sản xuất kinh doanh, đồng thời quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả. Nhận thức được đặc trưng này sẽ giúp doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. - Vốn là một loại hàng hoá đặc biệt được mua bán trên thị trường dưới hình thức mua bán quyền sử dụng vốn.
Giá cả của hàng hoá đặc biệt này trên thị trường được thể hiện là số lợi tức mà người mua quyền sử dụng vốn phải trả cho người đã nhượng đi quyền sử dụng vốn; được thoả thuận, có tính chất xác định trước, cũng có thể chưa được xác định trước. 10 Giá cả của vốn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó đặc biệt là quan hệ cung cầu trên thị trường vốn. Vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp - Khi thành lập doanh nghiệp phải có một lượng vốn tối thiểu cần thiết đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn là điều kiện để doanh nghiệp đầu tư thay thế tài sản cố định, đầu tư cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp.
Như vậy vốn có thể được xem là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự ra đời và tồn tại của doanh nghiệp. - Quy mô vốn của doanh nghiệp nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô tài sản, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, quy mô thị trường và khả năng thâm nhập, mở rộng thị trường của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có đủ vốn có thể mở rộng phạm vi hoạt động, có thể đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh mới hoặc cũng có thể cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm tạo lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. - Vốn là yếu tố quyết định đến việc đáp ứng các yêu cầu nghiên cứu khoa học, ứng dụng các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất kinh doanh, quyết định khả năng đổi mới trang thiết bị, quy trình công nghệ, phương pháp quản lý trong doanh nghiệp.
- Quy mô vốn là một trong những tiêu thức quan trọng để phân biệt quy mô doanh nghiệp lớn hay nhỏ. Thông qua các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn có thể đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thực hiện giám sát kiểm tra thường xuyên chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó đưa ra các quyết định để điều chỉnh 11 các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. Phân loại vốn kinh doanh Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn nhất định. Số vốn kinh doanh đó được biểu hiện dưới dạng tài sản.
Trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp, quản lý và sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả là nội dung quan trọng nhất, có tính chất quyết định đến mức độ tăng trưởng hay suy thoái của doanh nghiệp. Do vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ta cần phải nắm được vốn có những loại nào, đặc điểm vận động của nó ra sao. Có nhiều cách phân loại vốn kinh doanh tuỳ thuộc vào mục đích và loại hình doanh nghiệp 1. Phân loại vốn theo đặc điểm luân chuyển của vốn Theo cách phân loại này vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành 2 loại: a/ Vốn cố định Vốn cố định của doanh nghiệp là bộ phận vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng.
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu được sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tài sản cố định của doanh nghiệp gồm tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình. Tài sản cố định hữu hình là những tài sản cố định có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn … 12 Thông thường các tài sản được ghi nhận là tài sản cố định hữu hình phải thoả mãn đồng thời tất cả các điều kiện sau: + Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó + Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy + Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm + Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành Tài sản cố định vô hình là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ sử dụng trong sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định vô hình như quyền sử dụng đất, nhãn hiệu hàng hoá, quyền phát hành, bản quyền, phần mềm máy vi tính, bằng sáng chế, giấy phép nhượng quyền … Đặc điểm chung của các tài sản cố định trong doanh nghiệp là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh với vai trò là các công cụ lao động. Trong quá trình đó hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của tài sản cố định không thay đổi, song giá trị của nó lại chuyển dịch dần dần từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra.
Bộ phận giá trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được bù đắp khi sản phẩm được tiêu thụ.