CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI DƯỢC PHẨM MỸ PHẨM HÀ NỘI 1. Khái quát chung về vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm về vốn của doanh nghiệp Sự ra đời của nền kinh tế thị trường kéo theo sự xuất hiện khái niệm về vốn, và vai trò của nó ngày càng nó càng trở nên quan trọng đối với các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tham gia sản xuất kinh doanh trên thị trường đều phải có một lượng vốn nhất định.Vậy vốn kinh doanh là gì ? Có nhiều quan niệm về vốn kinh doanh, mỗi quan niệm đều nói lên một mặt nào đó của vốn kinh doanh. Theo khái niệm rộng vốn không chỉ đơn thuần là tiền tệ mà còn nguồn lực như tài nguyên lao động, đất đai, trí tuệ, máy móc thiết bị, bằng phát minh sáng chế, lợi thế so sánh.
Khái niệm này cho chúng ta có một cái nhìn rộng về vốn, nó là tất cả những cái gì mà doanh nghiệp có để tiến hành sản xuất kinh doanh Nếu theo hiểu theo nghĩa hẹp thì vốn là một trong các yếu tố vật chất đầu vào để sản xuất kinh doanh. Khái niệm này có một cái nhìn đơn giản về vốn không thấy được tính sáng tạo, linh hoạt của vốn, khái niệm này chỉ thích hợp với trình độ quản lý thời sơ khai Theo một số nhà kinh tế học lại cho rằng: Vốn là phần lượng sản phẩm tạm thời phải hy sinh tiêu dùng ở hiện tại của nhà đầu tư, để đẩy mạnh sản xuất tăng tiêu dùng trong tương lai Qua nghiên cứu các khái niệm trên thì chung ta có thể rút ra một khái niệm toàn diện về vốn kinh doanh như sau: Vốn là một phần thu nhập quốc dân dưới dạng tài sản vật chất và tài sản tài chính được các cá nhân các tổ chức, các doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích 2 Trong các doanh nghiệp hoạt động thương mại thì thường không có khâu sản xuất, đầu vào thường là hàng hoá và lợi nhuận thu được từ chênh lệch giá. Vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh Để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh, bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần phải có ba yếu tố cơ bản đó là: vốn, lao động và máy móc thiết bị. Trong ba yếu tố đó thì vốn đóng vai trò chủ đạo và quyết định.
Vốn là điều kiện cần để doanh nghiệp duy trì sản xuất, đỗi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, trả lương cho người lao động. Không những thế vốn còn quyết định đến tính chất hiện đại, hiệu quả của các yếu tố được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Điều này làm tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp Một doanh nghiệp khi xuất hiện trên thị trường thì cần phải có trong tay một lượng vốn nhất định, trong một số trường hợp lượng vốn đó phải đảm bảo mức tối thiểu để đảm bảo điều kiện pháp lý. Vốn nó cũng quyết định đến quy mô của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt thì các doanh nghiệp đều phải tạo cho mình một lợi thế cạnh tranh để có thể chiến thắng trên thương trường.
Một trong các lợi thế cạnh tranh mà các doanh nghiệp, tập đoàn lớn thường sử dụng đó là khả năng hùng mạnh về vốn của mình để thâu tóm, chèn ép các doanh nghiệp nhỏ. Điều này nó nói lên vai trò quan trọng của vốn trong một thế giới cạnh tranh khắc nghiệt. Một thuận lợi nữa đối với các doanh nghiệp có thế mạnh về vốn đó là họ có khả năng độc lập, tự chủ về tài chính, do đó họ có thể nắm bắt những cơ hội kinh doanh dễ dàng hơn so với các doanh nghiệp bị giới hạn về vốn. Thực chất, vốn là nguồn của cải của xã hội được tích luỹ, tập trung lại.
Nhưng nó chỉ là điều kiện cần cho việc tiến hành hoạt động kinh doanh, tuy nhiên để đứng vững trên thị trường thì doanh nghiệp phải sử dụng, quản lý nó như thế nào để đem lại hiệu quả cao 3 1. Phân loại vốn Có nhiều cách phân loại vốn, tùy thuộc vào lĩnh vực, phạm vi, mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta tiếp cận theo những giác độ khác nhau Căn cứ theo nguồn hình thành vốn thì vốn của doanh nghiệp được chia thành: - Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp: Là vốn do chủ doanh nghiệp tự bỏ vốn ra để đầu tư hoặc vốn cổ phần, lợi nhuận để lại của doanh nghiệp sau khi đã chia cho các cổ đông. Đối với các doanh nghiệp nhà nước thì đó là nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp, nguồn vốn bổ xung từ lợi nhuận để lại sau khi đã nộp một phần vào ngân sách nhà nước, vốn cổ phần do nhà nước phát hành cổ phiếu, vốn liên doanh liên kết - Vốn vay: Là các khoản tiền ngắn hạn, trung hạn và dài hạn mà doanh nghiệp nhận được từ ngân hàng, các tổ chức tài chính, các tổ chức, đơn vị, tập thể, cá nhân trong và ngoài nước để bổ sung vào vốn kinh doanh của doanh nghiệp bằng nhiều hình thức khác nhau với điều kiện phải hoàn trả trong một thời gian nào đó trong tương lai Hai nguồn vốn này là hai nguồn hình thành toàn bộ vốn kinh doanh của doanh nghiệp.Vì vậy việc huy động, sử dụng nó như thế nào có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu phân loại theo cách này thì các nguồn vốn của doanh nghiệp được thể hiện ở bên nguồn vốn cuả bảng cân đối kế toán (bảng tổng kết tài sản) của doanh nghiệp Căn cứ vào công dụng kinh tế của vốn thì người ta chia vốn làm hai loại là vốn cố định và vốn lưu động 1. Vốn cố định 1.1 Khái niệm và đặc điểm của vốn cố định Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ 4 sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng Trong các doanh nghiệp vốn cố định đóng vai trò quan trọng trong sản xuất kinh doanh, quy mô TSCĐ nói lên quy mô của doanh nghiệp, tính hiện đại của TSCĐ nó nói lên trình độ trang bị cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiện nay, theo quyết định số 166/1999/QĐ-BTC ban hành ngày 30/12/1999 của Bộ tài chịnh về ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ có quy định rõ về tiêu chuẩn và cách nhận biết TSCĐ: Mọi tư liệu lao động là từng tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều tài sản riêng lẽ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống không thể hoạt động được, được coi là TSCĐ nếu đồng thời thoã mãn cả hai tiêu chuẩn dưới đây + Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên + Có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên Trong một số trường hợp hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẽ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó và do yêu cầu quản lý, sử dụng TSCĐ đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì được coi là một TSCĐ độc lập Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thoã mãn đồng thời cả hai điều kiện trên mà không hình thành tài sản cố định hữu hình thì đựoc coi là tài sản cố định vô hình Từ khái niệm đó ta thấy vốn cố định có những đặc điểm sau: - Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và nó vẫn giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu cho đến khi hỏng 5 - Vốn cố định được dịch chuyển từng phần vào giá trị sản phẩm hàng hoá, trong đó một phần sẽ gia nhập vào chi phí sản xuất kinh doanh sản phẩm ( dưới hình thức chi phí khấu hao), phần còn lại vẫn nằm trong tài sản cố định - Tài sản cố định chỉ tăng lên khi có xây dựng cơ bản mới hoặc mua sắm - Tài sản cố định có khả năng chuyển đỗi thành tiền chậm nhưng đây là tài sản có giá trị cao, là bộ mặt của doanh nghiệp, vì vậy có giá trị thế chấp đối với ngân hàng khi vay vốn 1.2 Phân loại vốn cố định Để sử dụng vốn một cách có hiệu quả chúng ta phải nghiên cứu các phương pháp phân loại tài sản cố định, tùy theo các tiêu thức phân loại khác nhau ta có một cái nhìn về TSCĐ ở những góc độ khác nhau - Căn cứ vào hình thái biểu hiện: Theo phương pháp này toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành: + TSCĐ hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất, có giá trị lớn, thời gian sử dung dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nhưng vẫn giữ được hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị.
+ TSCĐ vô hình là tài sản: Là những tài sản không có hình thái vật chất, nhưng nó vẫn thể hiện một lượng giá trị đầu tư, có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh như chi phí về bằng phát minh, sáng chế, uy tín của doanh nghiệp. Ngày nay TSCĐ vô hình ngày càng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp, tuy nhiên có được những TSCĐ vô hình có giá trị không phải là chuyện đơn giản, thường nó cần phải có thời gian dài, trình độ kiến thức và cả sự nhận thức đúng đắn về tài sản vô hình Căn cứ vào tình hình sử dụng Căn cứ vào phương pháp này thì TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành: + TSCĐ đang sử dụng: Đây là những tài sản đang trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh 6 + TSCĐ chưa sử dụng: Đây là những tài sản của doanh nghiệp do nguyên nhân khách quan và chủ quan chưa được đưa vào sử dụng như: tài sản dự trữ, tài sản trong giai đoạn lắp ráp chạy thử.