Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cổ phần du lịch Kim Liên giai đoạn 2014 - 2016 Chương 4: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cổ phần du lịch Kim Liên Do những hạn chế về thời gian, kinh nghiệm và trình độ nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận đƣợc sự góp ý tận tình của thầy cô để đề tài đƣợc hoàn thiện đầy đủ hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu: Xung quanh vấn đề nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn đã có khá nhiều văn bản và công trình đề cập đến. Trong đó, đáng chú ý có một số công trình nhƣ sau: Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Trần Lệ Phƣơng bảo vệ tại Học viện Công nghệ bƣu chính viễn thông năm 2011 với đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần xây lắp bƣu điện Hà Nội” Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Trần Lệ Hảo bảo vệ tại Học viện tài chính năm 2010 với đề tài “Vốn kinh doanh và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần Xây dựng Công trình Thăng Long 9” Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Võ Thị Thanh Thủy bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng năm 2009 với đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần công nghệ thực phẩm Đà Nẵng” Các công trình nghiên cứu này đã phân tích thực trạng sử dụng vốn kinh doanh tại doanh nghiệp nghiên cứu, từ đó đƣa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp đó và các doanh nghiệp cùng ngành tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn khác nhau, ở mỗi ngành nghề khác nhau lại có những đặc điểm về vốn và hiệu quả sử dụng vốn khác nhau. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các tác giả đi trƣớc, căn cứ vào thực tế đang hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong thời gian gần đây mà tôi lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Du lịch Kim Liên” với mong muốn đƣợc đóng góp một phần vào công tác nâng cao hiệu quả sử djng vốn kinh doanh tại Công ty Kim Liên cũng nhƣ tại các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh du lịch khách sạn trong cả nƣớc.
3 Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau trong khoảng thời gian là từ năm 2014 đến năm 2016. - Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về vốn kinh doanh - Phƣơng pháp nghiên cứu - Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần du lịch Kim Liên. - Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần Du lịch Kim Liên và các doanh nghiệp cùng ngành tại 1. Cơ sở lý luận về Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp: 1.
Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của Doanh nghiệp: 1. Khái niệm về Vốn kinh doanh: Để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, doanh nghiệp cũng cần phải có vốn. Vốn kinh doanh là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa quyết định đến quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc hiểu là số tiền ứng trƣớc về toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình phục vụ cho sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích kiếm lời.
- Vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp là một loại quỹ tiền tệ đặc biệt. Mục tiêu của quỹ là để phục vụ cho sản xuất - kinh doanh tức là mục đích tích luỹ, không phải là mục đích tiêu dùng nhƣ một vài quỹ khác trong doanh nghiệp. - Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có trƣớc khi diễn ra hoạt động sản xuất - kinh doanh. - Vốn kinh doanh của doanh nghiệp sau khi ứng ra, đƣợc sử dụng vào kinh doanh và sau mỗi chu kỳ hoạt động phải đƣợc thu về để ứng tiếp cho kỳ hoạt động sau.
- Vốn kinh doanh không thể mất đi. Mất vốn đối với doanh nghiệp đồng nghĩa với nguy cơ phá sản. 4 Phải thấy rằng có sự phân biệt giữa tiền và vốn. Thông thƣờng có tiền sẽ làm nên vốn, nhƣng tiền chƣa hẳn là vốn.
Tiền đƣợc gọi là vốn phải đồng thời thoả mãn những điều kiện sau: Một là: Tiền phải đại diện cho một lƣợng hàng hoá nhất định. Hay nói cách khác, tiền phải đƣợc đảm bảo bằng một lƣợng tài sản có thực. Hai là: Tiền phải đƣợc tích tụ và tập trung ở một lƣợng nhất định. Sự tích tụ và tập trung lƣợng tiền đến hạn độ nào đó mới làm cho nó đủ sức để đầu tƣ vào một dự án kinh doanh nhất định.
Ba là: Khi tiền đủ lƣợng phải đƣợc vận động nhằm mục đích kiếm lời. Cách thức vận động của tiền là doanh nghiệp phƣơng thức đầu tƣ kinh doanh quyết định. Từ đó ta có thể hiểu về vốn kinh doanh nhƣ sau: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản đƣợc đầu tƣ và kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Đặc trƣng của vốn kinh doanh: - Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là số tiền ứng trƣớc cho hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Tất nhiên muốn có đƣợc lƣợng vốn đó, các doanh nghiệp phải chủ động khai thác, thu hút vốn trên thị trƣờng. - Mục đích vận động của tiền vốn là sinh lời. Nghĩa là vốn ứng trƣớc cho hoạt động sản xuất - kinh doanh phải đƣợc thu hồi về sau mỗi chu kỳ sản xuất, tiền vốn thu hồi về phải lớn hơn số vốn đã bỏ ra. Thành phần của vốn kinh doanh: Có nhiều cách phân loại vốn khác nhau, căn cứ vào việc Quản lý và sử dụng vốn kinh doanh ta có thể chia ra thành 2 phần: Vốn cố định và Vốn lƣu động - Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tƣ bên trong ứng trƣớc về tài sản cố định của doanh nghiệp.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất - kinh doanh đƣợc cũng phải có đủ 3 yếu tố: tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động và sức lao động. - Tƣ liệu lao động: là điều kiện vật chất không thể thiếu đƣợc trong quá trình hoạt động sản xuất - kinh doanh, nó góp phần quyết định đến năng suất lao 5 động. Tƣ liệu lao động trong các doanh nghiệp bao gồm những công cụ lao động mà thông qua chúng ngƣời lao động sử dụng lao động của mình tác động vào đối tƣợng lao động để tạo ra sản phẩm (máy móc thiết bị, công cụ làm việc.) và những phƣơng tiện làm việc cần thiết cho quá trình hoạt động sản xuất – kinh doanh bình thƣờng (nhƣ nhà xƣởng, công trình kiến trúc.) - Để thuận tiện cho việc quản lý tài sản ngƣời ta chia tƣ liệu lao động thành 2 bộ phận: tài sản cố định và công cụ lao động nhỏ. - Tài sản cố định là những tƣ liệu lao động chủ yếu có giá trị đơn vị lớn và thời hạn sử dụng lâu.
Về mặt thời gian sử dụng thì hầu hết các quốc gia đều áp dụng là trên một năm, về mặt giá trị đơn vị thì tuỳ thuộc vào mỗi quốc gia vận dụng cho phù hợp trong từng giai đoạn nhất định. - Tài sản cố định là một bộ phận của tƣ liệu lao động cho nên đặc điểm vật chất của tài sản cố định cũng chính là đặc điểm của tƣ liệu lao động. Tài sản cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất - kinh doanh, bị hao mòn dần nhƣng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu và giá trị của nó cũng giảm dần tƣơng ứng với mức độ hao mòn của tài sản cố định. - Từ những phân tích trên đây có thể thấy: tài sản cố định là những tƣ liệu lao động chủ yếu, có thời gian sử dụng lâu và có giá trị đơn vị lớn.
Đặc điểm chung nhất của chúng là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và không thay đổi hình thái vật chất ban đầu. Trong quá trình đó tài sản cố định bị hao mòn dần và giá trị của nó giảm dần tƣơng ứng, phần giá trị này đƣợc chuyển dịch vào giá trị sản phẩm mới mà nó tham gia sản xuất ra. - Mặc dù tài sản cố định không bị thay đổi hình thái hiện vật trong suốt thời gian sử dụng, song năng lực sản xuất cũng giảm sút dần do chúng bị hao mòn trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất. Hao mòn tài sản cố định đƣợc phân thành 2 loại: hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
Hao mòn hữu hình của tài sản cố định: là sự hao mòn về mặt vật chất làm giảm dần giá trị và giá trị sử dụng của tài sản cố định, doanh nghiệp tác động của các yếu tố tự nhiên gây ra hoặc khi tài sản cố định tham gia vào hoạt động sản xuất thì bị cọ xát, mài mòn dần. Trong trƣờng hợp do quá trình sử dụng, mức độ hao 6 mòn của tài sản cố định tỷ lệ thuận với thời gian và cƣờng độ sử dụng chúng vào sản xuất - kinh doanh. Mặt khác cho dù tài sản cố định không sử dụng chúng cũng bị hao mòn do tác động của các yếu tố tự nhiên: độ ẩm, khí hậu, thời tiết.làm cho tài sản cố định bị han rỉ, mục nát dần. Trong trƣờng hợp này, mức độ hao mòn của tài sản cố định nhiều hay ít phụ thuộc vào công tác bảo dƣỡng, bảo quản tài sản cố định của doanh nghiệp.
Hao mòn vô hình: là loại hao mòn về mặt giá trị, làm giảm thuần tuý về mặt giá trị của tài sản cố định (còn gọi là sự mất giá của tài sản cố định). Nguyên nhân dẫn đến hao mòn vô hình của tài sản cố định không phải do chúng sử dụng ít hay nhiều trong sản xuất, mà là do những tài sản cố định cùng loại mới đƣợc sản xuất ra có giá rẻ hơn hay hiện đại hơn hoặc doanh nghiệp chấm dứt chu kỳ sống của sản phẩm làm cho tài sản cố định trở nên không cần dùng hoặc giảm giá.