lời mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần DAMSAN. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần DAMSAN. 5 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH 1. Khái niệm và đặc điểm của vốn kinh doanh Vốn kinh doanh là tiền đề của mọi quá trình đầu tƣ và SXKD, là qu tiền tệ đặc biệt, là tiềm lực tài chính của doanh nghiệp, vốn kinh doanh của doanh nghiệp thƣờng xuyên vận động và chuyển hóa từ hình thái ban đầu là tiền chuyển sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại quay lại hình thái ban đầu là tiền. Từ trƣớc đến nay có rất nhiều quan niệm về vốn, ở mỗi một hoàn cảnh kinh tế khác nhau thì có những quan niệm khác nhau về vốn: Theo quan điểm của Mác, dƣới góc độ các yếu tố sản suất, Mác cho rằng: Vốn (tƣ bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dƣ, là đầu vào của quá trình sản suất. Định nghĩa của Mác về vốn có tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và vai trò của vốn.
Bản chất của vốn là giá trị, mặc dù nó đƣợc thể hiện dƣới nhiều hình thức khác nhau: TSCĐ, nguyên vật liệu, tiền công. Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển của nền kinh tế, Mác chỉ bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản suất vật chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dƣ cho nền kinh tế. Đây là một hạn chế trong quan niệm về vốn của Mác.Samuelson, đại diện tiêu biểu của học thuyết tăng trƣởng kinh tế hiện đại, coi đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và hàng hoá chỉ là kết quả của sản xuất. Vốn bao gồm các loại hàng hoá lâu bền đƣợc sản xuất ra và đƣợc sử dụng nhƣ các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó.
Một số hàng hoá vốn có thể tồn tại trong vài năm, trong khi đó 6 một số khác có thể tồn tại trong một thế kỷ hoặc lâu hơn. Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hoá vốn thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu ra vừa là yếu tố đầu vào trong sản xuất. David Begg, trong cuốn “Kinh tế học” ông đã đƣa ra hai định nghĩa về vốn là: Vốn hiện vật và vốn tài chính cùa doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác.
Vốn tài chính là các giấy tờ có giá và tiền mặt của doanh nghiệp. Nhƣ vậy, đã có sự đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp trong định nghĩa của David Begg. Nhƣ vậy, từ những nội dung trên, ta có thể kết luận rằng: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản và các nguồn lực mà doanh nghiệp sử dụng vào hoạt động sản suất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”. Trong nền kinh tế thị trƣờng, vốn kinh doanh của doanh nghiệp có các đặc trƣng khác với các yếu tố khác nhƣ sau: Một là, vốn biểu hiện giá trị của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, là lƣợng giá trị thực của tài sản hữu hình và vô hình.
Nhận thức đƣợc đặc trƣng này của vốn, các doanh nghiệp phải tìm mọi cách huy động tối đa tài sản vào quá trình SXKD để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Hai là, vốn đƣợc tích tụ và tập trung đến một lƣợng nhất định mới có thể phát huy đƣợc tác dụng. Các nhà quản lý, nhà đầu tƣ không chỉ khai thác mọi tiềm năng của vốn mà phải cân nhắc, tính toán, tìm cách chọn nguồn vốn huy động đủ đảm bảo yêu cầu SXKD và nâng cao hiệu quả sử dụng của đồng vốn. Ba là, vốn phải đƣợc vận động nhằm mục đích sinh lời.
Vốn đƣợc biểu hiện bằng tiền nhƣng tiền chỉ là dạng tiềm năng, là hình thái ban đầu của vốn. Để biến thành vốn, tiền phải đƣợc đƣa vào SXKD và sinh lời. Vì vậy, hàng hóa, vật tƣ ứ đọng, TSCĐ không dùng chờ thanh lý, sức lao động không sử dụng chỉ là những đồng vốn chết. Do đó doanh nghiệp phải tìm cách tạo điều 7 kiện cho vốn đƣợc vận động liên tục nhằm tăng mức sinh lời và huy động mọi nguồn lực cho sự phát triển sản xuất.
Bốn là, vốn có giá trị về thời gian. Thực tiễn của các hoạt động kinh tế đã chỉ rõ rằng giá trị của tiền luôn thay đổi ở những thời kỳ khác nhau. Vì ngoài yếu tố đầu tƣ sinh lời, giá trị một đồng tiền còn chịu ảnh hƣởng của các yếu tố cơ hội đầu tƣ, lạm phát, chính trị,. Giá trị thời gian của vốn là vấn đề hết sức quan trọng, chi phối nhiều đến quyết định đầu tƣ và các quyết định tài chính khác của doanh nghiệp.
Nhận thức đƣợc đặc trƣng này của vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp tránh đƣợc việc so sánh kết quả kinh doanh một cách đơn thuần; mặt khác, có những biện pháp bảo toàn và phát triển đồng vốn của mình. Năm là, vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định. Ngƣời sử dụng vốn chƣa chắc đã là ngƣời sở hữu vốn do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn. Đây là nguyên tắc rất quan trọng trong quản lý vốn, nó cho phép huy động đƣợc vốn nhàn rỗi trong các tổ chức, dân cƣ vào SXKD, đồng thời quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả.
Thực tế cho thấy, ở đâu có những đồng vốn vô chủ thì ở đó có sự chi tiêu lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả; chỉ khi xác định đƣợc rõ ràng chủ sở hữu của đồng vốn đó là ai thì đồng vốn mới đƣợc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả. Sáu là, trong nền kinh tế thị trƣờng, vốn đƣợc coi là một loại hàng hóa đặc biệt. Khác với nhiều hàng hóa thông thƣờng khác, vốn khi bán đi không mất quyền sở hữu mà chỉ mất quyền sử dụng trong một thời gian nhất định. Việc mua bán ở đây chính là mua bán quyền sử dụng vốn, còn quyền sở hữu vốn vẫn thuộc về ngƣời chủ nợ.
Chính đặc điểm này của vốn trong nền kinh tế thị trƣờng làm xuất hiện khái niệm chi phí sử dụng vốn. Trên góc độ tài chính doanh nghiệp, chi phí sử dụng vốn là chi phí cơ hội và chi phí đó đƣợc xác định từ thị trƣờng vốn. Do đó, các doanh nghiệp cần tìm các biện pháp khai thác nguồn vốn sao cho hiệu quả với chi phí thấp nhất. 8 Việc phân tích các đặc trƣng của vốn kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng là hết sức cần thiết.
Nó cung cấp những vấn đề có tính chất nguyên lý, là cơ sở cho việc hoạch định các chính sách và cơ chế quản lý cũng nhƣ nâng cao trình độ tổ chức, huy động và sử dụng vốn ở các doanh nghiệp. Phân loại vốn kinh doanh Có rất nhiều tiêu thức để phân loại vốn kinh doanh nhƣng hiện nay tiêu thức mà hầu hiết các doanh nghiệp đang áp dụng đó là dựa trên vai trò và đặc điểm luân chuyển của vốn. Đây là tiêu thức phân loại thể hiện rõ ràng và chính xác nhất các đặc trƣng của vốn trong doanh nghiệp. Theo đó, vốn kinh doanh đƣợc chia thành 2 loại đó là: vốn cố định và vốn lƣu động.
Vốn cố định Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ bao gồm: toàn bộ những tƣ liệu lao động có hình thái vật chất cụ thể có đủ tiêu chuẩn giá trị và thời gian sử dụng qui định. Có thể khái quát nét đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong quá trình SXKD nhƣ sau: Một là, vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm. Điều này do đặc điểm của TSCĐ đƣợc sử dụng lâu dài, sử dụng vào nhiều chu kỳ SXKD quyết định. Hai là, vốn cố định đƣợc luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận vốn cố định đƣợc luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dƣới hình thức chi phí khấu hao) tƣơng ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ. Ba là, sau nhiều chu kỳ sản xuất, vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn đƣợc luân chuyển vào giá trị sản phẩm dần dần tăng lên và phần vốn đầu tƣ ban đầu vào TSCĐ lại dần giảm xuống cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó đƣợc 9 chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất thì vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Những đặc điểm trên đây của vốn cố định đòi hỏi việc quản lý vốn cố định phải luôn gắn với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là các TSCĐ của doanh nghiệp.
TSCĐ của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho các hoạt động của doanh nghiệp và phải thỏa mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn là TSCĐ. Về thời gian sử dụng, TSCĐ là những tài sản có thời gian sử dụng từ một năm trở lên. Về giá trị, TSCĐ là những tài sản phải có giá trị lớn, mức giá trị cụ thể đƣợc chính phủ quy định phù hợp với tình hình kinh tế của từng thời kỳ. TSCĐ là yếu tố quyết định năng lực SXKD của doanh nghiệp và cần phải đƣợc đổi mới kịp thời để nâng cao năng suất, chất lƣợng sản phẩm và giảm chi phí tạo ra sản phẩm.
Vốn cố định của doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng đối với một doanh nghiệp trong quá trình hình thành và phát triển, do đó việc thƣờng xuyên sửa chữa, đổi mới, bổ sung TSCĐ và tăng thêm vốn có định trong các doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc của lao động. Vốn lưu động Vốn lƣu động của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả TSLĐ của doanh nghiệp bao gồm nguyên, nhiên vật liệu, bán thành phẩm. chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó đƣợc chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm.