CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về tài sản trong doanh nghiệp 1. Khái niệm Tài sản là một thuật ngữ quen thuộc trong đời sống, là vấn đề trọng tâm của các mối quan hệ trong xã hội nói chung và trong các quan hệ pháp luật nói riêng.
Tài sản tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, rất đa dạng và phong phú, từ đó có rất nhiều khái niệm định nghĩa về tài sản như sau: Theo chuẩn mực kế toán số 1 – Chuẩn mực chung (ban hành và công bố theo quyết định số 165/2002/QĐ – BTC ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính). Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư hàng hóa hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp, tài sản của doanh nghiệp còn được bao gồm các tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, như tài sản thuê tài chính, hoặc có những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai nhưng có thể không kiểm soát về mặt bằng pháp lý như bí quyết kỹ thuật thu được từ hoạt động triển khai có thể thỏa mãn các điều kiện trong định nghĩa về tài sản, khi các bí quyết đó còn giữ được bí mật và doanh nghiệp còn thu được lợi ích kinh tế. Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các giao dịch hoặc sự kiện đã qua như góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, được cấp, được biếu tặng. Các giao dịch hoặc sự kiện dự kiến sẽ phát sinh trong tương lai nhưng không làm tăng tài sản.
Tài sản của doanh nghiệp theo PGS. Nguyễn Đình Kiệm (2012) là tất cả các nguồn lực có thực, hữu hình hoặc vô hình, gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích kinh tế tương lai cho doanh nghiệp đó. Tài sản thường được hiểu là những đối tượng mang lợi ích nào đó đối với con người và có thể định giá được bằng tiền. Căn cứ theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 thì “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Tài sản bao gồm bất động sản và động sản có thể là tài sản hình thành trong tương lai”. Từ định nghĩa trên, có thể hiểu tài sản của doanh nghiệp là có nguồn lực hiện có của doanh nghiệp , thể hiện dưới dạng hữu hình hoặc vô hình gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Mặt khác, tài sản doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực do doanh nghiệp nắm quyền kiểm soát, cầm giữ và mang lại được lợi ích kinh tế trong tương lai từ những tài sản đó. Tài sản 1 của doanh nghiệp phải đảm bảo hai tiêu chí, đó là thuộc sở hữu của doanh nghiệp và sử dụng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
Đặc điểm Tài sản luôn đại diện cho một lượng vốn nhất định, hay nói cách khác, tài sản chính là biểu hiện của vốn. Tài sản cũng giống như các hàng hóa thông thường khác đều là sản phẩm lao động. Vì vậy, tài sản cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Tài sản phải được sử dụng nhằm mục đích sinh lợi.
Lợi ích kinh tế của một tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương tương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà doanh nghiệp phải chi ra. Phân loại tài sản trong doanh nghiệp Dựa vào vòng đời của các loại tài sản, từ thời gian đầu tư, lập kế hoạch mua sắm tài sản cho đến khi mua sắm tài sản, phân phối và đưa tài sản vào sử dụng, luân chuyển, thu hồi, thanh lý. Tài sản của doanh nghiệp thường được chia thành 2 loại hình chính đó là: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn (TSNH) có thể được định nghĩa khác nhau được trên nhiều tài liệu cũng như cơ sở khác nhau.
Nguyễn Đình Kiệm (2012): “TSNH là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, thời gian thu hồi vốn phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán trước 12 tháng kể từ khi kết thúc năm kế toán được coi là tài sản ngắn hạn. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài hơn 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán trước chu kỳ kinh doanh kể từ khi kết thúc năm kế toán được gọi là tài sản ngắn hạn”. Tài sản ngắn gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho (nguyên vật liệu, vật tư hàng hóa .), các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn và tài sản ngắn hạn khác.
Tiền và các khoản tương đương tiền: Khoản mục này bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, chứng khoán dễ thanh toán. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn như cổ phiếu, trái phiếu. Các khoản phải thu ngắn hạn như phải thu khách hàng, thu về việc trả trước cho người bán, phải thu nội bộ. Các khoản phải thu ngắn hạn: Là các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời gian thu hồi hoặc thanh khoản dưới 1 năm.
Hàng tồn kho: Là những tài sản hữu hình thuộc quyền sở hữu của công ty, được sử dụng vào sản xuất kinh doanh hoặc thực hiện dịch vụ, hàng hóa để bán hoặc gửi đi bán trong kỳ kinh doanh. Đối với các công ty sản xuất, hàng tồn kho bao gồm: nguyên 2 Thư viện ĐH Thăng Long liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, công cụ lao động, bao bì đóng gói, thành phẩm, sản phẩm dở dang. Tuy nhiên để đảm bảo cho sự ổn định trong sản xuất và tiêu thụ , công ty phải duy trì một lượng hàng tồn kho dự trữ an toàn và tùy thuộc vào loại hình công ty mà lại có những mức dự trữ an toàn khác nhau. TSNH khác: Bao gồm chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được khấu trừ, thuế và các khoản phải thu Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác.
TSNH của doanh nghiệp thường được phân bổ khắp giai đoạn của quá trình sản xuất thể hiện dưới nhiều hình thái khác nhau. Do vậy để nâng cao hiệu quả kinh doanh cần thường xuyên phân tích từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH. Tài sản dài hạn Tài sản ngắn hạn (TSDH) có thể được định nghĩa khác nhau dựa trên nhiều tài liệu cũng như cơ sở khác nhau. Nguyễn Đình Kiệm (2012): “TSDH là các tài sản có thời gian”.
Tài sản dài hạn (TSDH) được PGS. Nguyễn Đình Kiệm (2012) định nghĩa: “Những tài sản thường có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài, thời gian sử dụng thường phụ thuộc và chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán sau 12 tháng kể từ khi kết thúc năm kế toán được coi là tài sản dài hạn. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài hơn 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán sau 1 chu kỳ kinh doanh kể từ khi kết thúc kế toán năm được coi là tài sản dài hạn.
Tài sản dài hạn của doanh nghiệp bao gồm: Các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác. Các khoản phải thu dài hạn: Là các khoản phải thu có kỳ hạn thu hồi trên 12 tháng hoặc hơn 1 chu kỳ sản xuất, kinh doanh tại thời điểm báo cáo, như: Phải thu khách hàng, phải thu nội bộ, phải thu về cho vay, vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc, phải thu khác (sau khi từ đi dự phòng phải thu dài hạn khó đòi). Tài sản cố định: Là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho các hoạt động của doanh nghiệp và phải thỏa mãn đồng thời 3 điều kiện dưới đây: + Có khả năng thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó. + Có thời gian sử dụng trên một năm trở lên.
+ Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ ba mươi triệu đồng trở lên. Trong đa số các doanh nghiệp, tài sản cố định là một bộ phận lớn, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tài sản dài hạn. Tài sản cố định thường là những cơ sở vật chất kỹ thuật đại diện cho khả năng sản xuất, trình độ công nghệ của doanh nghiệp. Trong đó 3 máy móc trang thiết bị sản xuất là những bộ phận quan trọng nhất trong tài sản cố định của doanh nghiệp, chúng ta là thành phần chính tham gia và quá trình sản xuất, tăng năng suất lao động và giảm chi phí hạ giá thành sản phẩm.
Bất động sản đầu tư: Các loại bất động sản mà doanh nghiệp nắm giữ, kiểm soát như quyền sử dụng đất, nhà hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hay cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường. Một bất động sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau: + Có khả năng thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. + Nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định một cách đáng tin cậy. + Nguyên giá của bất động sản đầu tư bao gồm giá mua và các chi phí liên quan trực tiếp như: phí dịch vụ tư vấn pháp luật liên quan, thuế trước bạ và các chi phí giao dịch liên quan khác.