CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề cơ bản về tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản ngắn hạn Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, là kết quả của những hoạt động trong quá khứ, mà từ đó một số lợi ích kinh tế trong tương lai có thể dự kiến trước một cách hợp lý. ( Theo chuẩn mực quốc tế VAS) Tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn, tuy nhiên TSNH đóng vai trò quan trọng đến tính ổn định trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo Thông tư 200/TT-BTC: Tài sản ngắn hạn là tài sản phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có thể chuyển đổi thành tiền, có thể bán hay sử dụng trong vòng không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo. Lê Thị Xuân (2015), đưa ra khái niệm về tài sản ngắn hạn như sau: Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn có thời gian thu hồi vốn hoặc thanh toán trong vòng một năm hoặc một chu kì kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Nguyễn Văn Dương (2023), cho biết quan điểm: Tài sản ngắn hạn là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc trong một năm.TS Nguyễn Năng Phúc (2013), chỉ ra một tài sản được xếp vào TSNH nếu thỏa mãn một trong những yếu tố sau đây: Một là, tài sản này được dự tính để bán hoặc sử dụng trong một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Hai là, tài sản này được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại hoặc cho mục đích ngắn hạn và dự kiến thu hồi hoặc thanh toán trong vòng 12 ngày kể từ ngày kết thúc niên độ.
Ba là, tài sản đó là tiền hoặc tài sản tương đương tiền mà việc sử dụng không gặp một hạn chế nào. Phân loại tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có thể chuyển đổi thành tiền, có thể bán hay sử dụng trong vòng không quá 12 tháng hoặc một chu kì kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Theo Lê Thị Xuân (2015) tài sản ngắn hạn (TSNH) được phân loại theo các tiêu chí như sau: Phân loại theo hình thái biểu hiện Theo hình thái biểu hiện, TSNH được chia thành 2 loại: - Tiền, các khoản phải thu và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Tiền: bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. Đây là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất và đứng đầu tiên trên BCDKT.
Các khoản phải thu: Chủ yếu bao gồm các khoản phải thu từ khách hàng, ngoài ra còn có các khoản ứng trước cho nhà cung cấp,… Đầu tư tài chính ngắn hạn: bao gồm chứng khoán kinh doanh, dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh, đầu tư nắm giữ tới ngày đáo hạn và các khoản đầu tư khác có kỳ hạn còn lại không quá 12 tháng kể từ thời điểm báo cáo. - Hàng tồn kho: Hàng tồn kho trong khâu dự trữ: bao gồm vật tư dự trữ. Đây là nguyễn vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật đóng gói và công cụ dụng cụ phục vụ cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Hàng tồn kho trong khâu sản xuất: bao gồm các sản phẩm dở dang ( sản phẩm đang chế tạo).
Hàng tồn kho trong khâu tiêu thụ: bao gồm thành phẩm – các sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn và được nhập kho. Phân loại theo vai trò của TSNH với quá trình SXKD Theo tiêu thức này, TSNH được chia thành 3 loại chủ yếu: - TSNH trong khâu dự trữ sản xuất: nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế. 7 - TSNH trong khâu trực tiếp sản xuất: sản phẩm đang chế tạo, chi phí trả trước. - TSNH trong khâu lưu thông: thành phẩm, tiền, khoản phải thu, các khoản đầu tư ngắn hạn, cho vay ngắn hạn.
Đặc điểm của TSNH - Theo Lê Thị Xuân (2015) TSNH thay đổi theo hình thái biểu hiện trong suốt quá trình kinh doanh: Đối với các doanh nghiệp sản xuất: T - H- SX - H’ -T’ Đối với các doanh nghiệp thương mại: T - H - T’ Giá trị TSNH được dịch chuyển toàn bộ một lần vào mỗi chu kỳ kinh doanh. TSNH hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh. Toàn bộ giá trị tài sản ngắn hạn được thu hồi sau khi kết thúc chu kỳ kinh doanh. - Theo Lê Minh Trường (2022) đã khái quát một số đặc điểm của tài sản ngắn hạn như sau: TSNH không ổn định, luôn vận động, thay đổi hình thái liên tục trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh.
TSNH luôn đảm bảo được khả năng thanh toán, khả năng sinh lời nhằm tránh lãng phí tài sản sau quá trình luân chuyển. TSNH nhanh chóng thích nghi với sự biến động lên xuống của sản xuất và doanh số của doanh nghiệp. Điều này là do những khoản đầu tư cho TSNH có thể được thu hồi dễ dàng, không tốn quá nhiều chi phí. TSNH luôn vận động và chuyển hóa trong suốt quá trình SXKD của doanh nghiệp.
Điều này giúp cho việc kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục, không bị ngắt quãng. Vai trò của TSNH Lê Thị Xuân (2015) đã đưa ra một số vai trò của tài sản ngắn hạn như sau: TSNH là vật chất không thể thiếu để đảm bảo cho quá trình kinh doanh được tiến hành bình thường và liên tục. Sự vận động của TSNH phản ánh tình hình mua sắm vật tư, tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. 8 Giá trị TSNH ở mỗi khâu cho biết số lượng vật tư, hàng hóa dự trữ sử dụng ở các khâu nhiều hay ít.
Tốc độ luân chuyển TSNH phản ánh vật tư được sử dụng hiệu quả hay không, thời gian ở khâu sản xuất và lưu thông hợp lý hay không hợp lý. Thông qua tỷ trọng TSNH trong từng khâu có thể điều chỉnh kết cấu TSNH cho hợp lý nhằm sử dụng một cách tiết kiệm và hiệu quả. Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 1. Khái niệm hiệu quả sử dụng TSNH Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì hiệu quả được định nghĩa như sau: Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi và hướng tới, nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau.
Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất. trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về hiệu quả sử dụng TSNH, tuy nhiên chúng ta có thể tóm gọn trong một số khái niệm như sau: “Hiệu quả sử dụng tài sản là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sao cho quá trình sảm xuất kinh doanh được tiến hành bình thường để đạt được kết quả tốt nhất.” Có thể hiểu rằng, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn phản ánh năng lực, trình độ quản lý cũng như khai thác, sử dụng tài sản của doanh nghiệp để đảm bảo cho quá trình SXKD diễn ra liên tục, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh và giúp doanh nghiệp đạt mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Tại sao cần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn? Việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn sẽ gia tăng tốc độ luân chuyển TSNH trong doanh nghiệp, tài trợ kịp thời cho hoạt động kinh doanh.
Ngoài ra còn giúp doanh nghiệp tăng khả năng sinh lời và khả năng thanh toán bởi TSNH tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và khi sử dụng hiệu quả thì tăng khả năng bán ra của sản phẩm, đem lại khả năng thu hổi vốn và đảm bảo vốn cho hoạt động SXKD. 9 Đồng thời khi công ty tăng hiệu quả sử dụng TSNH sẽ giúp gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Bởi vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản là vấn đề cần được các doanh nghiệp quan tâm hiện nay. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Các nhân tố chủ quan - Trình độ của nhà quản lý và hệ thống thông tin của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn sẽ được phân bổ trong các giai đoạn của một chu kỳ kinh doanh.
Vì vậy, sự quản lý chặt chẽ của các nhà quản lý sẽ hạn chế được tính trạng thất thoát của tài sản và làm cho hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tăng lên nhiều lần. Đồng thời, trình độ của các nhân viên mà tốt thì công đoạn sản xuất sẽ được hoàn thành nhanh chóng với năng suất cao. Hệ thống thông tin quản lý của doanh nghiệp sẽ bao gồm cả yếu tố con người và quy trình phân tích, thu thập thông tin để kịp thời đưa ra những cảnh báo sớm cho doanh nghiệp. - Đặc điểm ngành nghề kinh doanh: Mỗi doanh nghiệp có những ngành nghề kinh doanh kinh doanh riêng biệt với đặc điểm hoạt động sản xuất khác nhau.
Do đó, việc xác định chính xác nhu cầu sử dụng TSNH của công ty sẽ làm cho hiệu quả sử dụng tài sản là tốt nhất và tránh được tình trạng dư thừa hay thiếu hụt vốn trong SXKD. - Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Điều này được thể hiện rõ nhất khi doanh nghiệp lựa chọn một dự án nào đó để đầu tư. Khi dự sán khả thi và phù hợp với năng lực hoạt động của doanh nghiệp thì sản lượng sản xuất ra sẽ được tiêu thụ mạnh mẽ và làm tăng vòng quay TSNH. Ngược lại, nếu sự lựa chọn của quý công ty không phù hợp với nhu cầu của thị trường thì hàng tồn kho sẽ bị ứ đọng và không đạt được hiệu quả mong muốn.
Các nhân tố khách quan - Môi trường kinh tế: Hiệu quả sử dụng TSNH sẽ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như lạm phát, giảm phát, chiến tranh, thiên tai…. Các doanh nghiệp sẽ phải chịu rủi ro tài sản nếu bất 10 chợt bị ảnh hưởng bởi sự biến động của thị trường trong nước. Nếu như các doanh nghiệp không kịp thời có những chính sách phù hợp sẽ làm cho TSNH bị sụt giảm giá trị theo tốc độ thay đổi của đồng tiền.