Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng hoạt động và hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty TNHH Nhà nƣớc MTV Diesel Sông Công. Chương 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty TNHH Nhà nƣớc MTV Diesel Sông Công.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Hiệu quả sản xuất kinh doanh và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh (hiệu quả kinh doanh) là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp nhằm thu đƣợc kết quả cao nhất với một chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh doanh không chỉ là thƣớc đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với mỗi doanh nghiệp.
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh. Tuỳ theo từng lĩnh vực nghiên cứu mà ngƣời ta đƣa ra các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh. Dƣới đây là một số quan điểm về hiệu quả kinh doanh: Quan điểm thứ nhất: Nhà kinh tế học ngƣời Anh là Adam Smith cho rằng "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, doanh thu tiêu thụ hàng hoá" [8]. Theo quan điểm này, Adam Smith đã đồng nhất hiệu quả với chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh.
Hạn chế của quan điểm này là kết quả hay hiệu quả sản xuất kinh doanh có thể tăng lên do chi phí sản xuất tăng hay do mở rộng sử dụng các nguồn lực sản xuất. Nếu với cùng một kết quả sản xuất kinh doanh nhƣng có hai mức chi phí khác nhau, thì theo quan điểm này chúng có cùng hiệu quả. Quan điểm này chỉ đúng khi kết quả sản xuất kinh doanh tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào của sản xuất Quan điểm thứ hai: "Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỉ lệ giữa phần tăng thêm của phần kết quả và phần tăng thêm của chi phí” [8]. Quan điểm này đã xác định hiệu quả trên cơ sở so sánh tƣơng đối giữa kết quả đạt đƣợc với phần chi phí bỏ ra để có đƣợc kết quả đó.
Nhƣng xét trên quan niệm của triết học Mác-Lênin thì sự vật hiện tƣợng đều có quan hệ ràng buộc, có tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ. Hơn nữa, sản xuất kinh doanh là một quá trình tăng thêm có sự liên hệ mật thiết với các yếu tố có sẵn. Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm kết quả sản xuất kinh doanh thay đổi. Hạn chế của quan điểm này là nó chỉ xem Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 xét hiệu quả trên cơ sở so sánh phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí mà không xem xét đến phần chi phí và phần kết quả ban đầu.
Quan điểm thứ ba: "Hiệu quả kinh doanh là mức độ thoả mãn yêu cầu quy luật cơ bản của chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng với tư cách là chỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong doanh nghiệp" [8] Quan điểm này có ƣu điểm là bám sát mục tiêu, động viên tinh thần của nhân dân. Nhƣng khó khăn ở đây là phƣơng tiện đo nói chung và mức sống nói riêng rất đa dạng và phong phú, nhiều hình nhiều vẻ đƣợc phản ánh trong nhiều chỉ tiêu mức độ thoả mãn nhu cầu hay mức độ nâng cao đời sống nhân dân. Quan điểm thứ tƣ: “Hiệu quả sản xuất kinh doanh đó là một phạm trù kinh tế nó phản ánh trình độ lợi dụng và cung cấp các nguồn lực như thiết bị máy móc nhằm đạt mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra” [8]. Theo ông, “tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính được theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh”.
Quan điểm thứ năm: "Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó" [8]. Quan niệm này có ƣu điểm là phản ánh đƣợc mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế. Nó gắn đƣợc kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả là sự phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất kinh doanh. Ở góc độ tài chính thì đây cũng chính là lợi nhuận của doanh nghiệp.
Trong cơ chế thị trƣờng nhƣ hiện nay, mọi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đều có mục tiêu nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Lợi nhuận là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để đạt mức lợi nhuận cao, các doanh nghiệp cần phải hợp lý hoá quá trình sản xuất kinh doanh, từ khâu chọn yếu tố đầu vào đến khâu thực hiện quá trình nghiệp vụ kỹ thuật sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm. Mức độ hợp lý hoá của quá trình đó đƣợc phản ánh qua một phạm trù kinh tế cơ bản gọi là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ doanh nghiệp sử dụng hợp lý các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất nhằm thu đƣợc kết quả cao nhất với mức chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh doanh là thƣớc đo chất lƣợng, phản ánh trình độ tổ chức, quản lý của doanh nghiệp. Mặt khác, hiệu quả kinh doanh còn là chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp, góp phần tăng thêm sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp trên thị trƣờng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Thực chất của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là việc nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội.
Nếu doanh nghiệp nào có hiệu quả kinh doanh thấp sẽ bị loại khỏi thị trƣờng, doanh nghiệp nào có hiệu quả kinh doanh cao sẽ tồn tại và phát triển. Khi phân tích hiệu quả kinh doanh các chỉ tiêu cần xem xét gắn với thời gian, không gian và môi trƣờng của các chỉ tiêu nghiên cứu. Mặt khác, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp còn đặt trong mối quan hệ với hiệu quả xã hội và trách nhiệm bảo vệ môi trƣờng và nguồn tài nguyên đất nƣớc. Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát: Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất lượng các hoạt động kinh doanh, trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn.) trong quá trình kinh doanh để đạt được mục tiêu xác định.
Nó được đo bằng các chỉ tiêu so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Phân loại hiệu quả kinh doanh Phân loại hiệu quả kinh doanh là một việc làm hết sức thiết thực, là phƣơng thức để các doanh nghiệp xem xét đánh giá những kết quả mà mình đạt đƣợc và là cơ sở để xây dựng các chính sách, chiến lƣợc, kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp. Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả đƣợc biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện những đặc trƣng và ý nghĩa cụ thể của nó. Việc phân loại hiệu quả kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực trong việc trong việc điều hành tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp.1 Phân loại theo phạm vi tính toán: Hiệu quả tài chính của doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế của quốc gia a.
Hiệu quả tài chính: Hiệu quả tài chính của doanh nghiệp là hiệu quả xem xét trong phạm vi doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận đƣợc và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thu đƣợc lợi ích kinh tế đó. Hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của mỗi doanh nghiệp, các nhà đầu tƣ. Biểu hiện chung của hiệu quả doanh nghiệp là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt đƣợc.
Tiêu chuẩn cơ bản của hiệu quả này là đạt lợi nhuận cao và ổn định. Hiệu quả kinh tế của quốc gia: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 Hiệu quả kinh tế của quốc gia bằng hiệu quả tài chính của quốc gia cộng với hiệu quả môi trƣờng của quốc gia do hoạt động kinh doanh mang lại. Hiệu quả tài chính của quốc gia đƣợc tính cho toàn bộ nền kinh tế, về cơ bản nó là sản phẩm thặng dƣ, thu nhập quốc dân hay tổng sản phẩm xã hội mà đất nƣớc thu đƣợc trong mỗi thời kỳ so với lƣợng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài nguyên đã hao phí. Hiệu quả tài chính của quốc gia bằng tổng cộng hiệu quả tài chính của các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế.
Hiệu quả môi trƣờng chính là sự thay đổi về giá trị của các tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng do ảnh hƣởng của hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc, chúng ta không những cần quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả SXKD (hiệu quả tài chính) của từng doanh nghiệp mà còn phải quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả kinh tế của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Giữa hiệu quả tài chính của doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế quốc gia có mối quan hệ mật thiết, vì hiệu quả kinh tế quốc gia lại phụ thuộc vào hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời, hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nƣớc cũng có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế doanh nghiệp.
Một cơ chế quản lý đúng tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp, ngƣợc lại một chính sách lạc hậu, sai lầm lại trở thành lực cản kìm hãm việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp. Tóm lại: Hiệu quả SXKD của doanh nghiệp (hiệu quả tài chính) là mối quan tâm của các doanh nghiệp hoặc nhà đầu tƣ còn hiệu quả kinh tế của quốc gia là mối quan tâm của toàn xã hội mà đại diện là nhà nƣớc. Hiệu quả tài chính đƣợc xem xét theo quan điểm của doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế của quốc gia đƣợc xem xét theo quan điểm của toàn xã hội.