LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hoạt động của một ngân hàng nói riêng và của cả hệ thống ngân hàng nói chung mang rất nhiều rủi ro, trong đó có rủi ro thanh khoản. Thanh khoản đóng vai trò quan trọng đảm bảo cho sự hoạt động bình thường của ngân hàng thương mại. Và rủi ro thanh khoản là một trong các rủi ro rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng.
Khác với rủi ro tín dụng thường diễn ra theo một tiến trình thì rủi ro thanh khoản thường mang tính chất bất ngờ, không nhất thiết phải là những khó khăn trong bảng tổng kết tài sản, và đặc biệt nguy hiểm bởi khả năng lây lan có tính hệ thống trong một khoảng thời gian rất ngắn. Một khi rủi ro thanh khoản xảy ra, tùy vào mức độ và sự lan truyền, có thể làm ngưng trệ hoạt động của một hay nhiều ngân hàng, kéo theo cả bộ máy tài chính tại một hay nhiều nước. Chính vì ảnh hưởng lớn, vừa mang tính cục bộ, vừa mang tính toàn cầu của loại rủi ro này mà quản trị rủi ro thanh khoản trở thành một vấn đề thường trực mang tính sống còn cho ngành ngân hàng cũng như cả nền kinh tế. Liên hệ với thực tiễn ở Mỹ, Châu Âu và Việt Nam trong thời gian qua cho thấy vấn đề thanh khoản diễn biến rất phức tạp và khó lường.
Theo nhận định của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia thì “Thanh khoản hệ thống luôn bấp bênh, căng thẳng, thị trường liên ngân hàng ách tắc, một số TCTD rơi vào tình trạng mất thanh khoản liên tục…”. Do đó, công tác quản trị rủi ro, đặc biệt là rủi ro thanh khoản trong hoạt động ngân hàng trở nên rất đáng lưu tâm, có ý nghĩa cấp bách cả về lý luận và thực tiễn. Điều này đồng nghĩa với việc để giúp hệ thống Ngân hàng Việt Nam phát triển bền vững và hiệu quả, điều kiện cần là phải nhìn nhận sự thiết yếu của việc quản trị rủi ro thanh khoản của mỗi Ngân hàng, và NH TMCP Sài Gòn Công Thương cũng không là ngoại lệ. Chính vì lý do đó, việc chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản tại NH TMCP Sài Gòn Công Thƣơng” là hết sức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 cần thiết.
Qua đó, tác giả mong muốn có thể ứng dụng mô hình này vào thực tiễn, làm cơ sở tham khảo cho công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại NH TMCP Sài Gòn Công Thương nói riêng và hệ thống Ngân hàng Việt Nam nói chung để nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản của các ngân hàng, giúp cho hệ thống ngân hàng Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh trong xu thế hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thanh khoản, rủi ro thanh khoản và hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân Hàng Việt Nam. - Phân tích thực trạng về hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản tại NH TMCP Sài Gòn Công Thương. - Thực hiện Stress testing rủi ro thanh khoản để đánh giá hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản của NH TMCP Sài Gòn Công Thương.
- Kiến nghị những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản tại NH TMCP Sài Gòn Công Thương. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: Hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản tại NH TMCP Sài Gòn Công Thương trong khoảng thời gian 2009-2012. Phƣơng pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu định tính: sử dụng các số liệu thống kê thông qua thu thập dữ liệu có sẵn, tiến hành tính toán các chỉ số để đánh giá nội dung cần tập trung nghiên cứu. Bên cạnh đó, sử dụng phương pháp suy diễn để lập luận và giải thích các chỉ số tác động đến khả năng thanh khoản của NH TMCP Sài Gòn Công Thương.
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Thực hiện Stress testing rủi ro thanh khoản để đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng trong 5 ngày làm việc trong tuần khi không có sự hỗ trợ từ bên ngoài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đóng góp của luận văn: Đánh giá tính thanh khoản và hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản tại NH TMCP Sài Gòn Công Thương, từ đó tìm ra những hạn chế, tồn tại và một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động này trong thời gian tới ở NH TMCP Sài Gòn Công Thương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái quát về thanh khoản 1.1 Khái niệm thanh khoản Thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh.
Tính thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng, được tạo lập bởi tính thanh khoản của tài sản và tính thanh khoản của nguồn vốn. Một ngân hàng có tính thanh khoản cao khi có nhiều tài sản thanh khoản hoặc có khả năng mở rộng nguồn vốn nhanh với chi phí thấp, hoặc cả hai, phù hợp với nhu cầu thanh khoản. Một tài sản được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh. Một nguồn vốn được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh.1 Tính thanh khoản của tài sản Ngân hàng quan tâm đến tính thanh khoản của mỗi tài sản và danh mục của tài sản.
Tính thanh khoản của mỗi tài sản là khả năng chuyển tài sản thành tiền, được đo bằng thời gian và chi phí. Thời gian và chi phí càng cao tính thanh khoản của tài sản càng thấp và ngược lại. Tính thanh khoản của tài sản phản ánh rủi ro khi chuyển tài sản thành tiền trong khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, một tài sản muốn bán nhanh thì chịu chi phí lại lớn.
Điều này cho thấy tính thanh khoản của tài sản phụ thuộc vào nhiều nhân tố và có thể thay đổi theo thời gian giữa các vùng, các nước. Tài sản thanh khoản có 3 đặc điểm sau: - Tài sản thanh khoản phải có một thị trường sẵn sàng để có thể được chuyển thành tiền nhanh chóng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Giá của tài sản phải ổn định, dù tài sản giá trị lớn như thế nào hay cần được bán nhanh ra sao, thị trường vẫn đủ “sâu” để chấp nhận với mức giá thay đổi không đáng kể - Thị trường của tài sản phải có khả năng đảo chiều để cho người bán có thể mua lại tài sản với mức tổn thất không đáng kể. Ngân hàng nắm giữ danh mục tài sản với tính thanh khoản khác nhau.
Kết cấu tài sản với tính chất thanh khoản khác nhau tạo nên tính thanh khoản của nhóm tài sản hoặc tổng tài sản. Tính thanh khoản của danh mục tài sản được đo bằng tỷ lệ của các tài sản có tính thanh khoản cao trên tổng tài sản (hoặc trên tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng). Tỷ lệ này càng cao, tính thanh khoản của tổng tài sản càng lớn.2 Tính thanh khoản của nguồn vốn Ngân hàng huy động vốn để tạo lập nên các tài sản, trong đó có các tài sản có tính thanh khoản cao. Như vậy, khả năng huy động tạo khả năng thanh toán của ngân hàng, phản ánh tính thanh khoản của nguồn vốn.
Tính thanh khoản của nguồn được đo bằng thời gian và chi phí để mở rộng nguồn khi cần thiết. Thời gian và chi phí càng thấp, tính thanh khoản của nguồn vốn càng cao. Tính thanh khoản của nguồn vốn phụ thuộc vào nhiều nhân tố như sự phát triển của thị trường tài chính, sự gia tăng thu nhập của dân cư và tính nhạy cảm của thu nhập với lãi suất, vị trí và mạng lưới ngân hàng. Lợi thế mà ngân hàng có được nhờ tính thanh khoản của nguồn vốn: - Ngân hàng chỉ thực hiện vay vốn thanh khoản khi cần thiết chứ không phải lúc nào cũng nắm giữ một số tài sản thanh khoản làm giảm thu nhập tiềm năng, do những tài sản này mang lại tỷ lệ thu nhập thấp.
- Ngân hàng vẫn có thể duy trì được quy mô và cấu trúc của danh mục tài sản nếu như ngân hàng cảm thấy thoả mãn với danh mục hiện tại.2 Cung cầu về thanh khoản Cung thanh khoản: Là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Các khoản tiền gửi đang đến (S1) - Doanh thu từ việc bán các khoản dịch vụ (S2) - Thu hồi tín dụng đã cấp (S3) - Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng (S4) - Vay mượn từ thị trường tiền tệ (S5) Cầu thanh khoản: Là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ ngân hàng. Thông thường, trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng, những hoạt động sau đây tạo ra cầu về thanh khoản: - Khách hàng rút các khoản tiền gửi (D1) - Yêu cầu cấp các khoản tín dụng có chất lượng cao (D2) - Hoàn trả các khoản vay mượn phi tiền gửi (D3) - Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ (D4) - Thanh toán cổ tức cho các cổ đông (D5) 1.3 Đánh giá trạng thái thanh khoản: Trạng thái thanh khoản ròng: Ở bất kỳ thời điểm nào, các nguồn cung và cầu thanh khoản đến cùng với nhau và tạo thành trạng thái thanh khoản ròng (Net Liquidity Position – NLP), trạng thái này có thể được xác định như sau: Trạng thái ∑ Cung ∑ Cầu thanh khoản = thanh - thanh ròng khoản khoản (NLPt) = (S1+S2+S3+S4+S5) – (D1+D2+D3+D4+D5) Những trường hợp có thể xảy ra như sau: Thứ nhất: Thặng dư thanh khoản khi NLPt>0: Ngân hàng ở trong trạng thái thừa thanh khoản. Nhà quản trị phải đưa ra quyết định ở đâu và vào thời điểm nào cần phải sử dụng nguồn thanh khoản thừa để đầu tư kiếm lời cho đến khi nguồn thanh khoản này được sử dụng để đáp ứng cho nhu cầu thanh khoản trong tương lai. Thừa thanh khoản là một trạng thái mất cân bằng của các NHTM, xảy ra khi nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, ngân hàng không tiếp cận được với khách hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hoặc không lựa chọn được nhiều khách hàng để cho vay.