CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Tổng quan về quản trị ngân hàng thương mại 1. Về quan niệm quản trị ngân hàng thương mại 1. Công trình trong nước Tổng quan nghiên cứu về quản trị NHTM cho thấy nhìn chung các nghiên cứu đều đồng thuận rằng quản trị công ty trong ngân hàng (sau đây được gọi là quản trị ngân hàng) có những nét tương đồng với quản trị công ty thông thường (phi tài chính) do đều là một loại hình doanh nghiệp nhưng quản trị ngân hàng sẽ được nhìn nhận với sự khác biệt hơn bao gồm phạm vi cấu trúc cổ đông lớn hơn, mức độ phức tạp và đòi hỏi minh bạch cao hơn và cần một hệ thống giám sát an toàn và kinh doanh chặt chẽ hơn.
Chính vì lẽ đó tác giả định hướng tổng quan các vấn đề liên quan đến quản trị ngân hàng theo quản trị công ty và những khác biệt trong hoạt động quản trị của ngân hàng. Theo nội dung của “Bộ nguyên tắc quản trị công ty theo thông lệ tốt nhất dành cho công ty đại chúng tại Việt Nam” do Ủy ban an toàn quốc gia và Công ty tài chính quốc tế (IFC) [50], quản trị công ty là một khái niệm rộng với mục tiêu là xây dựng một môi trường có sự tin tưởng, minh bạch và trách nhiệm giải trình cần thiết để thúc đẩy đầu tư, ổn định tài chính và đạo đức kinh doanh. Mặc dù chưa có khái niệm thống nhất nhưng qua tổng quan tác giả thấy có những quan điểm về quản trị công ty nói chung và quản trị NHTM nói riêng đã được chấp nhận phổ biến. Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Tiến [5,6] thể hiện rằng NHTM cũng là một loại hình doanh nghiệp nên hoạt động quản trị của NHTM trước hết phải thuộc hoạt động quản trị doanh nghiệp nói chung.
Nội dung quản trị doanh nghiệp mà trọng tâm là quản trị kinh doanh được biết đến phổ biến là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra hoạt động của mọi thành viên trong doanh nghiệp, sử dụng các nguồn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 lực (nhân lực, vật lực và tài lực) nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Nhìn nhận quản trị NHTM dưới góc nhìn theo chức năng hoạt động của một tổ chức kinh tế, học giả Nguyễn Duy Gia [7] cho rằng quản trị luôn là một trong những chức năng của các tổ chức nói chung, nó hướng tới thiết lập các mục tiêu, phương hướng, vai trò, chức năng và nhiệm vụ, các quan hệ bên trong và bên ngoài của mỗi tổ chức, thiết kế môi trường và phương pháp làm việc có hiệu quả nhất cho cá nhân và cả tổ chức đó. Học giả Phan Phương Nam [58], Nguyễn Văn Nam và cộng sự [40] tiếp cận quan niệm quản trị NHTM theo cách quản trị NHTM là toàn bộ các nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức của NHTM, mối quan hệ giữa các cổ đông với những người có liên quan đến NHTM nhằm thực hiện một cách có hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành ngân hàng, bảo vệ công bằng và hợp lý quyền lợi của các chủ thể liên quan và đảm bảo tính công khai, minh bạch trong mọi hoạt động của NHTM. Tác giả đánh giá cao tầm quan trọng của các nguyên tắc quản trị trong khái niệm đưa ra.
Học giả Trần Huy Hoàng [47] nhấn mạnh rằng quản trị NHTM là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm làm cho hoạt động ngân hàng thích ứng với thay đổi môi trường, nâng cao hiệu quả của tổ chức, đảm an toàn cho hoạt động của ngân hàng và đạt các mục tiêu đã đề ra; đồng thời học giả cũng nêu ra các nội dung quản trị ngân hàng cụ thể như quản trị chiến lược, quản trị tổ chức, quản trị nhân lực, quản trị Marketing, quản trị tài chính. Quan niệm quản trị của tác giả cho thấy rõ hoạt động quản trị ngân hàng cần phải có sự cải tiến và phù hợp với hoạt động quản trị hiện đại, hiệu quả theo thông lệ quốc tế. Học giả Đặng Thùy Dung [4] tiếp cận khái niệm quản trị là sự tác động của các chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được các mục tiêu nhất định đã đặt ra trong các điều kiện biến động của môi trường kinh doanh. Còn quản trị ngân hàng theo tác giả là việc thiết lập một chương trình hoạt động kinh doanh dài hạn và ngắn hạn cho một ngân hàng, xác định các nguồn tài nguyên sẵn có từ đó lãnh đạo, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 nhân viên ngân hàng thực hiện các mục tiêu đề ra.
Trong khái niệm này quan điểm của tác giả nhấn mạnh sự tác động của con người, chủ thể quản trị làm thế nào để đạt được mục tiêu có tính tới yếu tố biến động của môi trường. Tiếp cận theo hướng đánh giá cao tầm quan trọng về năng lực quản trị của nhà quản lý ngân hàng, theo Nguyễn Đăng Dờn và nhóm tác giả [29] cho rằng quản trị NHTM là việc lựa chọn và hoạch định các phương án kinh doanh tối ưu, đảm bảo khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hiện có và nguồn lực tiềm năng, nhằm thu được hiệu quả tối đa cả về phương diện kinh tế và tài chính, tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển của ngân hàng. Công trình nước ngoài Trên thực tế, nhìn chung quản trị công ty nói chung và quản trị NHTM nói riêng có thể được xem xét trên cả hai góc độ rộng và hẹp. Học giả Solomon [86] từ góc độ hẹp đã chỉ ra rằng quản trị công ty chỉ giới hạn trong mối quan hệ giữa công ty và các cổ đông của công ty.
Trong khi đó ở góc độ rộng hơn, quản trị công ty có thể được coi là một mạng lưới các mối quan hệ, không chỉ giữa công ty và chủ sở hữu (các cổ đông), mà còn giữa công ty với nhiều bên liên quan trong công ty; với nghĩa rộng này quản trị công ty được nhấn mạnh ở mức độ trách nhiệm giải trình rộng hơn đối với cổ đông và các bên liên quan khác, theo đó quản trị công ty là hệ thống kiểm tra và cân bằng cả nội bộ và bên ngoài công ty nhằm đảm bảo rằng công ty thực hiện trách nhiệm giải trình với tất cả các bên liên quan và hành động có trách nhiệm với xã hội trong tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh doanh. Theo như James Stoner và Stephen Robbins [1] thì quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Bên cạnh đó, Mary Parker Follett [1] thể hiện góc nhìn quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác. Walker Review [87] đã tiếp cận quản trị công ty là hệ thống kiểm tra và công bằng, cả nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp nhằm đảm bảo rằng các doanh nghiệp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 thực hiện trách nhiệm giải trình với tất cả các bên liên quan và hành động có trách nhiệm với xã hội trong tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh doanh.
Harold Koontz và Cyril O’Donnell [1] khi nghiên cứu về quản trị nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì môi trường cho hoạt động quản trị, theo lẽ đó quản trị được hiểu là thiết lập và duy trì một môi trường mà các cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) [44] trong cuốn “Các nguyên tắc quản trị công ty” đã đưa ra khái niệm quản trị công ty với mục tiêu là xây dựng môi trường có sự tin tưởng, minh bạch và trách nhiệm giải trình cần thiết để thúc đẩy đầu tư, ổn định tài chính và đạo đức kinh doanh như sau: quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty liên quan tới các mối quan hệ giữa Ban giám đốc, HĐQT và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan. Đồng thời Tổ chức này cũng thể hiện quan điểm rằng quản trị công ty tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty. Theo lẽ đó, từ góc độ thực thi, quản trị công ty có thể dẫn đến sự thay đổi trọng tâm từ “quan hệ” sang “quy tắc, thủ tục” khi quản trị công ty chỉ rõ việc phân chia quyền và trách nhiệm giữa những người tham gia khác nhau trong công ty, chẳng hạn nhưu HĐQT, người quản lý, cổ đông và các bên có liên quan khác, đồng thời đưa ra các quy tắc và thủ tục ra quyết định các công việc của công ty.
Học giả Andrei Shleifer và Robert W. Vishny [61] cho rằng quản trị công ty là mối liên hệ giữa rất nhiều chủ thể tham gia vào quá trình định hướng về hoạt động của công ty. Trong đó, các cổ đông, ban điều hành (BĐH) và HĐQT là những chủ thể trước tiên. Theo học giả Berle and Means [66] đề cao các thủ tục, chính sách, quy định, pháp luật và thể chế để định hướng cho tổ chức và doanh nghiệp cách thức hành động, điều hành và kiểm soát các hoạt động của mình để đạt được mục tiêu đề ra trong quá trình quản trị công ty.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Theo Công ty tài chính IFC [12] quản trị công ty là những cơ cấu và những quá trình để định hướng kiểm soát và giám sát công ty hoặc quản lý hoặc hành vi quản lý. Quản trị công ty được xem xét với ngụ ý rộng hơn, quan trọng đối với phát triển kinh tế, phúc lợi xã hội, ổn định và công bằng xã hội. Học giả Carbury [68] quan tâm tới việc duy trì sự cân bằng giữa mục tiêu kinh tế và xã hội và giữa mục tiêu cá nhân và cộng đồng trong quản trị công ty.