Lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội và quản lý thu-chi Bảo hiểm xã hội. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thu-chi Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010-2014. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu-chi Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. 11 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ THU-CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1 Khái quát về BHXH 1.1 Khái niệm và bản chất của BHXH Xã hội ngày càng phát triển thì đời sống con người ngày càng đầy đủ và hoàn thiện hơn.
Trong thực tế, con người luôn phải đối mặt với những rủi ro, yếu tố bất ngờ làm giảm hoặc mất một phần thu nhập. Những rủi ro, yếu tố bất ngờ đó có thể là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,.Khi rơi vào những tình huống này, các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống như ăn, ở, đi lại không vì thế mà mất đi, mà trái lại xuất hiện thêm nhiều nhu cầu mới như: ốm đau cần được khám chữa bệnh và điều trị, thương tật cần có người chăm sóc.Để đảm bảo cuộc sống, con người đã tìm ra nhiều giải pháp như: tiết kiệm, đi vay, hay nhờ và sự giúp đỡ của cộng đồng.Tuy nhiên những giải pháp này chỉ mang tính tạm thời, không chắc chắn và rất thụ động. Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển và việc thuê mướn lao động trở nên phổ biến thì đồng chủ thời mâu thuẫn chủ thợ cũng từ đó phát sinh. Giới chủ từ chỗ lúc đầu chỉ cam kết trả lương cho NLĐ sau đó đã phải trợ cấp thêm một phần thu nhập nữa cho NLĐ để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN.
Mâu thuẫn chủ-thợ dần phát sinh và diễn ra ngày càng gay gắt, ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều mặt của đời sống kinh tế-xã hội. Nhà nước phải đứng ra can thiệp và điều hòa mâu thuẫn, đảm bảo an toàn xã hội. Sự can thiệp này buộc cả giới chủ và thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định, hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Ngoài ra qũy còn có hỗ trợ và bảo trợ của Nhà nước khi cần thiết.
Quỹ này nhằm đảm bảo cuộc sống cho NLĐ khi có biến cố xảy ra. Nhờ đó, cuộc sống của NLĐ và gia đình họ được đảm bảo. NLĐ yên tâm sản xuất từ đó nâng cao năng suất lao động, tạo ra nguồn thu nhập lớn hơn cho giới chủ. Mặt khác, Nhà nước cũng thể hiện được trách nhiệm và vai trò của mình đối với toàn xã hội.
12 Nền kinh tế thị trường luôn tồn tại các thất bại, trong đó công bằng xã hội là một dạng thất bại thị trường. Với chức năng quản lý xã hội, Nhà nước có trách nhiệm phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời trợ giúp cho nhóm đối tượng yếu thế. BHXH là một công cụ hữu hiệu được Nhà nước đưa ra nhằm giảm thiểu rủi ro, góp phần đảm bảo cuộc sống cho NLĐ nói chung người dân nói riêng, từ đó đảm bảo an toàn xã hội. Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách BHXH và xem đây là trụ cột chính trong hệ thống ASXH.
Mặc dù có quá trình phát triển lâu dài nhưng do tính chất phức tạp và đa dạng nên đến nay vẫn còn có những nhận thức khác nhau về BHXH. Điều đó được phản ánh qua các khái niệm BHXH được thể hiện dưới các góc độ khác nhau. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO): "BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp công cộng nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội do bị mất hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già, chết đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con." Ở một số nước trên thế giới khi đưa ra khái niệm về BHXH xuất phát quan điểm chỉ bao gồm trường hợp bảo hiểm thu nhập cho NLĐ, thường tách BHXH với BHYT và BHTN mặc dù đó cũng là hình thức bảo hiểm mang tính xã hội. Theo Luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam năm 2006: "Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng góp vào quỹ Bảo hiểm xã hội." Theo Giáo trình Bảo hiểm, NXB Đại học kinh tế quốc dân, Chủ biên PGS.TS Nguyễn văn Định: "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm dẫn đến mất thu nhập trên cơ sở hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ, góp phần đảm bảo 13 ASXH".
Khái niệm này đã xác định diện bảo vệ của BHXH bao gồm NLĐ và gia đình NLĐ. Từ các khái niệm về BHXH, bản chất của BHXH có thể được khái quát qua một số nội dung sau: - BHXH là một nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội. Nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị trường có sự phân công lao động, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nhất định. Kinh tế càng phát triển thì các chế độ BHXH ngày càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng phong phú đa dạng.
Vì vậy có thể nói kinh tế phát triển là điều kiện tiên quyết đến sự phát triển của BHXH và BHXH không thể vượt qua trạng thái kinh tế của mỗi quốc gia. - Mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH là các mối quan hệ về kinh tế và xã hội phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và quan hệ trong quản lý xã hội. Đó là các mối quan hệ diễn ra giữa ba bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH. Bên tham gia BHXH có thể là NLĐ và Nhà nước hoặc NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước.
Bên BHXH thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ. Cơ quan này được tổ chức và hoạt động theo quy định Pháp luật của từng nước. Còn bên được BHXH là NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc. - BHXH là sự phân phối lại thu nhập, san sẻ rủi ro mang tính xã hội dựa trên luật số lớn.
Đó là sự san sẻ rủi ro trong cộng đồng, san sẻ giữa NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước, san sẻ cả về mặt không gian và thời gian giữa những doanh nghiệp, tổ chức, những vùng, những ngành trong một thời kỳ hoặc nhiều thời kỳ khác nhau. San sẻ rủi ro, san sẻ tài chính ngay trong nội bộ NLĐ, NSDLĐ. Bởi vậy, BHXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhậu, BHXH là dịch vụ công do đơn vị sự nghiệp Nhà nước thực hiện và giám sát. - Rủi ro và sự kiện trong BHXH là những rủi ro ngẫu nhiên, bất ngờ như: ốm đau, TNLĐ-BNN,.và các sự kiện xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: thai sản, tuổi già,.Những rủi ro này có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động, không đồng đều theo không gian và thời gian.
14 - Tài chính BHXH là cơ sở chủ yếu của mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH. Và quỹ BHXH là hạt nhân, là nội dung vật chất bên trong của tài chính BHXH. Quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại, được hình thành từ sự đóng góp của cả ba bên: NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước. Mức đóng góp của mỗi bên đều được quy định cụ thể trong Luật BHXH.
Phần thu nhập bị giảm hoặc mất của NLĐ khi gặp phải những rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ nguồn quỹ này. - Mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của NLĐ và gia đình họ khi NLĐ bị giảm hoặc mất một phần thu nhập. Từ đó giúp NLĐ nhanh ổn định cuộc sống, góp phần đảm bảo ASXH. - Đối tượng của BHXH là thu nhập NLĐ, còn diện bảo vệ của BHXH bao gồm cả NLĐ và gia đình họ.
Vì thế có thể nói BHXH đã, đang và sẽ bảo vệ cho mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội.2 Vai trò của BHXH BHXH ra đời và phát triển ngày càng khẳng định được vai trò của mình trên nhiều phương diện của thực tế cuộc sống cũng như trong phát triển kinh tế-xã hội.1 Đối với NLĐ Diện bảo vệ đầu tiên của BHXH là NLĐ. Đây là lực lượng đông đảo nhất, tạo ra của cải vật chất và dịch vụ chủ yếu cho xã hội. Những rủi ro hoặc các sự kiện bảo hiểm như ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN,.có thể xảy ra với bất kỳ NLĐ nào, tại bất kỳ thời điểm nào, gây rất nhiều khó khăn, tổn thất cả về vật chất và tinh thần cho NLĐ và gia đình họ. Lúc này bản thân NLĐ và gia đình họ rất cần sự giúp đỡ, chia sẻ để họ nhanh chóng phục hồi khả năng lao động, nhanh chóng quay trở lại quá trình sản xuất.
Quỹ BHXH sẽ trợ giúp bằng cách thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập bị giảm hoặc bị mất cho NLĐ. BHXH góp phần ổn định thu nhập từ đó góp phần ổn định cuộc sống cho NLĐ. BHXH là chỗ dựa tinh thần để NLĐ yên tâm làm việc, giúp họ phát huy khả năng sáng tạo trong lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, tạo thêm nhiều của cải vật chất cho xã hội.2 Đối với NSDLĐ NSDLĐ muốn ổn định và phát triển sản xuất thì ngoài việc đầu tư vào trang thiết bị, máy móc, nhà xưởng,.còn phải chăm lo đến đời sống NLĐ. Bởi NLĐ có làm việc liên tục thì quá trình sản xuất kinh doanh mới diễn ra thông suốt.
Tuy nhiên trong quá trình sản xuất cũng như trong đời sống, NLĐ có thể gặp rủi ro bất cứ lúc nào. Lúc đó, NSDLĐ phải bỏ một khoản chi phí lớn để thuê mướn công nhân mới, để đào tạo công nhân mới dẫn đến gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh, giảm năng suất lao động và giảm doanh thu.