ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng ngập mặn là một hệ sinh thái rừng đặc biệt mà Việt Nam là một trong những Quốc gia được thiên nhiên ban tặng. Rừng ngập mặn chỉ có ở các nước nhiệt đới, á nhiệt đới và có vai trò bảo vệ môi trường, con người, đặc biệt trong bảo vệ bờ biển các vùng duyên hải. Việt Nam, với bờ biển dài hơn 3620 km, hệ thống rừng ngập mặn phong phú trải dài từ Bắc đến Nam. Rừng ngập mặn không chỉ có vai trò to lớn trong việc đảm bảo sinh kế của dân cư ven biển mà còn đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo môi sinh, giảm thiểu tác hại của thiên nhiên, khắc phục hiện tượng nước biển dâng, xâm lấn ngập mặn… Hiện nay, quá trình phát triển kinh tế xã hội với tốc độ đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh, cùng với tốc độ gia tăng dân số nên con người đã khai thác và sử dụng rừng ngập mặn vào nhiều mục đích khác nhau làm cho diện tích rừng ngập mặn ngày càng bị thu hẹp, thành phần loài thực vật và chất lượng rừng ngày càng bị suy giảm.
Thị xã Quảng Yên có địa hình trung du ven biển, một trong những địa phương có diện tích rừng ngập mặn lớn của tỉnh Quảng Ninh, hơn nữa rừng ngập mặn nơi đây là một hệ sinh thái có tính đặc thù và đa dạng sinh học cao. Rừng ngập mặn có vai trò lớn đối với người dân địa phương như: bảo vệ đê biển, bảo vệ đời sống sản xuất, kinh doanh của toàn bộ người dân khu vực đảo Hà Nam mùa mưa bão, cung cấp nguồn lợi thủy sản… Tuy nhiên, thời gian gần đây, cơ cấu kinh tế thị xã đang chuyển biến đang kể, hướng chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ và phấn đấu đến năm 2020 trở thành đô thị loại III của tỉnh Quảng Ninh, việc thu hút đầu tư các lĩnh vực công nghiệp cảng biển diễn ra mạnh, cùng với đó là việc phát triển nuôi trồng thủy sản trên địa bàn đã làm diện tích rừng ngập mặn bị thay đổi đáng kể chủ 2 yếu theo hướng tiêu cực làm cho vai trò của rừng ngập mặn bị suy giảm. Công tác quản lý rừng ngập mặn đang còn nhiều khó khăn và tồn tại, đặc biệt là công tác quản lý về đất rừng còn chồng chéo giữa các ngành lâm nghiệp và tài nguyên môi trường, chưa được giải quyết triệt để, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến diện tích rừng ngập mặn hiện có trên địa bàn. Xuất phát từ cơ sở thực tiễn trên, tôi tiến hành chọn đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng ngập mặn tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh” nhằm đánh giá về thực trạng diện tích, công tác quản lý rừng hiện nay, để làm sơ sở đề xuất các giải pháp quản lý rừng ngập mặn một cách hiệu quả.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về rừng ngập mặn 1. Khái niệm rừng ngập mặn - Rừng ngập mặn là quần xã được hợp thành từ thực vật ngập mặn ảnh hưởng bởi nước triều ven biển nhiệt đới hoặc bán nhiệt đới. Rừng nhiệt đới phân bổ từ vĩ độ 25 Bắc xuống vĩ độ 25 Nam.
Theo thống kê năm 2000 rừng ngập mặn phổ biến trên 118 quốc gia trên thế giới với diện tích 137. Nằm trong mối tương tác giữ đất liền và biển, rừng ngập mặn là sinh cảnh quan trọng và quý giá về khả năng thích nghi. - Ban nghiên cứu Hệ sinh thái RNM (MERD), trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường (CRE), Đại học Quốc Gia Hà Nội cũng đã đưa ra khái niệm về RNM trong chương trình RNM cho tương lai (MFF) như sau: RNM bao gồm nhiều loại cây sống trong các vùng nước mặn ven biển trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi những thực vật khác rất khó sinh trưởng. Những khu vực này lộ ra khi thủy triều thấp và ngập trong nước mặn khi triều lên.
Với các đặc tính của mình, cây ngập mặn vẫn có thể sống và sinh trưởng tốt trong những điều kiện khắc nghiệt đó 1. Vai trò của rừng ngập mặn RNM nước ta có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển, ngăn chặn gió bão, hạn chế xói lở, mở rộng diện tích đất liền và điều hòa khí hậu. Rừng ngập mặn có vai trò sinh thái - môi trường vô cùng to lớn - Rừng ngập mặn là lá phổi xanh: RNM điều hòa khí hậu trong vùng, làm khí hậu dịu mát hơn, giảm nhiệt độ tối đa và biên độ nhiệt, giúp hạn chế sự bốc hơi nước vùng đất RNM, giữ ổn định độ mặn lớp đất mặt, hạn chế sự 4 xâm nhập mặn vào đất liền. RNM hấp thụ CO2, thải ra O2 làm không khí trong lành, giảm hiệu ứng nhà kính.
- Rừng ngập mặn là quả thận xanh: Các dòng chảy từ nội địa - nơi có những khu công nghiệp, khu dân cư đông đúc - mang theo nhiều chất thải trong sinh hoạt, y tế, công nghiệp, nông nghiệp cùng với các hóa chất dư thừa khi qua vùng RNM ven biển được hệ rễ cây ngập mặn có rất nhiều vi sinh vật phân hủy, biến chúng thành thức ăn cho hệ sinh vật ở đây, làm trong sạch nước biển. Chính vì thế người ta đã ví RNM là quả thận khổng lồ lọc các chất thải cho môi trường vùng ven biển. - Rừng ngập mặn là bức tường xanh vững chắc: Các hoạt động của con người trong sản xuất công nghiệp, trong giao thông vận tải, do phá rừng đã làm cho lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính trong khí quyển ngày càng tăng cao, làm biến đổi khí hậu. RNM có vai trò trong việc giảm thiểu tác hại của sóng thần, bão lụt RNM có chức năng chống lại sự tàn phá của sóng thần nhờ hai phương thức khác nhau: Thứ nhất: khi năng lượng sóng thần ở mức trung bình, những cây ngập mặn vẫn có thể đứng vững, bảo vệ hệ sinh thái của chính mình và bảo vệ cộng đồng dân cư sinh sống đằng sau chúng.
Có được như vậy là vì các cây ngập mặn đan xem lẫn nhau, rễ cây phát triển cả trên và dưới mặt đất cộng với than và tán lá cây cùng kết hợp để phân tán sức mạnh của sóng thần. Thứ hai: Khi năng lượng sóng thần đủ lớn để có thể cuốn trôi nhưng cánh RMN thì chúng vẫn có thể hấp thụ nguồn năng lượng khổng lồ của sóng thần bằng cách hy sinh chính mình để bảo vệ cuộc sống con người. Rễ cây ngập mặn có khả năng phát triển mạnh mẽ cả về mức độ rậm rạp và sự dàn trải. Khi cây ngập mặn bị đổ xuống thì rễ cây dưới mặt đất sẽ tạo ra một hệ thống dày đặc ngăn cản dòng nước.
Mở rộng diện tích đất bồi, hạn chế xói lở Sự phát triển của RNM và mở rộng diện tích đất bồi là hai quá trình luôn đi kèm nhau. Ở những vùng đất mới bồi có độ mặn cao có các thực vật tiên phong là loài Mắm trắng, Bần đắng; vùng cửa sông với độ mặn thấp hơn có Bần chua, Mắm trắng. Rễ cây ngập mặn, đặc biệt là quần thể thực vật tiên phong mọc dày đặc có tác dụng làm cho trầm tích bồi tụ nhanh hơn, vừa ngăn chặn tác động của sóng biển, giảm tốc độ gió, vừa làm vật cản cho trầm tích lắng đọng. RNM còn có tác dụng hạn chế xói lở và các quá trình xâm thực bờ biển.
Rừng ngập mặn là nơi cư trú, nuôi dưỡng các loài động vật, các loài thủy sản RNM không những là nguồn cung cấp thức ăn mà còn là nơi cư trú, nuôi dưỡng con non của nhiều loài thủy sản có giá trị, đặc biệt là các loài tôm sú, tôm biển xuất khẩu. Trong vòng đời của một số lớn các loài cá, tôm, cua… có một hoặc nhiều giai đoạn bắt buộc phải sống trong các vùng nước nông, cửa sông có RNM. Rừng ngập mặn là nơi cung cấp thức ăn cho các loài động vật, đặc biệt cho các loài thủy sản. Vật rụng (lá, cành, chồi, hoa, quả) của cây RNM được các vi sinh vật phân hủy thành mùn bã hữu cơ là nguồn thức ăn cho các loài thủy sản.
Trong quá trình phân hủy, lượng đạm trên các mẫu lá tăng 2 - 3 lần so với ban đầu (Kaushik và Hynes, 1971). Sự phân bố RNM trên thế giới và Việt Nam * Trên thế giới: - Rừng ngập mặn trên thế giới được phân bố ở giữa 300 bắc và nam của xích đạo. Ở gần đường xích đạo, cây rừng ngập mặn sinh trưởng tốt, chiều cao của cây cao, số lượng loài cũng nhiều hơn nơi xa vùng xích đạo. 6 - Dựa theo sự phân bố địa lý của thế giới, Walsh (1974) trích dẫn từ tài liệu của Viên Ngọc Nam (2005) đã phân chia thực vật rừng ngập mặn thành 2 vùng chính: vùng Ấn Độ – Thái Bình Dương và vùng Tây Phi – châu Mỹ Vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương gồm: Đông Phi, Biển Đỏ, Ấn Độ, Đông Nam Á, phía nam Nhật Bản, Philippine, Úc, New Zealand và quần đảo Nam Thái Bình Dương.
Vùng Tây Phi và châu Mỹ bao gồm bờ biển Atlantic của châu Phi và châu Mỹ, bờ biển Thái Bình Dương của vùng nhiệt đới châu Mỹ và quần đảo Galapagos. - Năm 2007, FAO đã công bố tài liệu “ RNM của thế giới 1980 – 2005” dựa vào các số liệu đáng tin cậy của các nước. Ước tính năm 2005, diện tích rừng ngập mặn hiện có trên thế giới là 15,2 triệu ha, giảm so với 18,8 triệu ha năm 1980. Diện tích RNM lớn nhất thuộc về Châu Á, tiếp theo là Châu Phi, Bắc và Trung Mỹ.
Chỉ riêng diện tích RNM của năm quốc gia (Indonexia, Australia, Brazil, Nigeria, Mexico) đã chiếm 48% tổng diện tích RNM của 10 quốc gia cũng đã chiếm 65% tổng diện tích RNM toàn thế giới, 35% còn lại nằm rải rác trên lãnh thổ của 114 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong số đó 60 quốc gia và vùng lãnh thổ có ít hơn 10. * Tại Việt Nam: - Dựa vào các yếu tố vật lý, khảo sát thực địa và một phần kết quả ảnh viễn thám, Phan Nguyễn Hồng (1991) đã chia RNM ra làm 4 khu vực và 12 tiểu khu khác nhau. Cụ thể như sau: + Khu vực 1: ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn. + Khu vực 2: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch Trường.
+ Khu vực 3: Ven biển Trung Bộ, từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu. + Khu vực 4: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải, Hà Tiên. Nghiên cứu về quản lý rừng ngập mặn 1.