Chương 1: Tổng quan về hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hiệu quả công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam – chi nhánh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2014. Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam – chi nhánh Vĩnh Phúc trong thời gian tới. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng đƣợc coi là quan hệ vay mƣợn lẫn nhau giữa ngƣời có vốn và ngƣời thiếu vốn với điều kiện có hoàn trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, và bên kia là tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.2 Phân loại tín dụng ngân hàng Việc phân loại tín dụng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý tín dụng ở ngân hàng, giúp ngân hàng xác định đƣợc cơ cấu cho vay có phù hợp với tính chất nguồn vốn của ngân hàng hay không, có bảo đảm an toàn không.
Chính vì vậy mà hiện nay có rất nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng để phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trƣờng, cụ thể nhƣ sau: Tiêu thức 1: Theo thời hạn cho vay thì tín dụng được chia làm ba loại: - Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ một năm (12 tháng) trở xuống, thƣờng đƣợc cho vay để bổ xung thiếu hụt tạm thời về vốn lƣu động của các doanh nghiệp, cá nhân. và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình. - Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm. Loại tín dụng này để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải 4 tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và sử dụng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 5 năm. Loại tín dụng này dùng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Tín dụng dài hạn có giá trị lớn, thời gian thu hồi vốn lâu hơn. Tiêu thức 2: Theo đối tượng đầu tư thì tín dụng được chia làm 2 loại: - Tín dụng vốn lƣu động: là loại tín dụng đƣợc cấp nhằm hình thành vốn lƣu động của doanh nghiệp hay cho vay để bù đắp mức vốn lƣu động thiếu hụt tạm thời.
Loại tín dụng này thƣờng đƣợc chia thành các loại cho vay dự trữ hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất và cho vay để thanh toán các khoản nợ dƣới hình thức khấu trừ chứng từ có giá. - Tín dụng vốn cố định là loại tín dụng đƣợc cấp nhằm hình thành nên vốn cố định của doanh nghiệp. Loại tín dụng này thƣờng đƣợc sử dụng cho nhu cầu đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các công trình mới, thời hạn cho vay đối với loại tín dụng này là trung hạn và dài hạn. Ngoài ra để phân loại tín dụng ngƣời ta còn căn cứ vào nhiều tiêu thức khác: - Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, tín dụng đƣợc chia thành: cho vay bất động sản, cho vay thƣơng mại dịch vụ, cho vay nông nghiệp, cho vay tiêu dùng.
- Căn cứ vào tính chất bảo đảm của tín dụng có thể chia thành tín dụng có bảo đảm và tín dụng không có bảo đảm. - Căn cứ vào hình thái giá trị tín dụng có thể chia thành cho vay bằng tiền hay cho vay bằng tài sản. - Căn cứ vào mức lãi suất, ngƣời ta phân biệt tín dụng thƣơng mại và tín dụng ƣu đãi. - Căn cứ vào phƣơng pháp hoàn trả có các hình thức cho vay trả góp, cho vay phí trả góp và cho vay hoàn trả theo yêu cầu.3 Khái niệm rủi ro tín dụng Để tìm hiểu về rủi ro tín dụng ngân hàng, trƣớc tiên ta đi xem xét rủi ro ngân hàng là gì? Ngân hàng là kênh dẫn vốn quan trọng trong nền kinh tế bới nó có chức năng trung gian tài chính giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay.
Tuy nhiên hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trƣờng rất nhạy cảm, nó liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan nhƣ kinh tế, chính trị, xã hội. Hơn nữa, ngân hàng không chỉ hoạt động trong lĩnh vực huy động vốn mà còn rất nhiều lĩnh vực khác nhƣ thanh toán, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, chứng khoán, phát hành thẻ.Do đó, hoạt động của các ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Rủi ro chung đối với một ngân hàng có nghĩa là mức độ không chắc chắn liên quan đến những sự kiện, những tình huống gây nên tổn thất kinh tế, làm chi phí tăng lên, thu nhập và lợi nhuận ngân hàng giảm đi so với dự kiến ban đầu. Rủi ro có thể đƣợc đo lƣờng cho các sản phẩm, dịch vụ khác nhau của ngân hàng.
Thông thƣờng mức lợi nhuận ngân hàng càng cao thì xác suất xảy ra rủi ro cũng càng cao. Các ngân hàng đƣợc coi là kinh doanh thành công khi mức độ rủi ro của họ đƣợc giữ ở mức hợp lý, đƣợc kiểm soát trong phạm vi và năng lực hoạt động tài chính của ngân hàng. Do đặc thù kinh doanh nên hoạt động của ngân hàng phải đối mặt với các loại rủi ro nhƣ: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro hoạt động ngoại bảng, rủi ro công nghệ và những rủi ro khác. Trong tất cả các rủi ro kể trên thì rủi ro trong hoạt động tín dụng là loại rủi ro lớn nhất, phức tạp nhất và là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng thƣơng mại.
Cho đến nay chƣa có đƣợc định nghĩa thống nhất về rủi ro tín dụng. Tại Thông tƣ số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 Quy định về phân loại 6 tài sản có, mức trích, phƣơng pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam đã nêu: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại Rủi ro tín dụng ngân hàng là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện đƣợc các nghĩa vụ tài chính với ngân hàng. Đây là loại rủi ro lớn nhất, thƣờng xuyên xảy ra và thƣờng gây hậu quả nặng nề nhất.
Hoạt động tín dụng là hoạt động lớn nhất và chủ yếu của ngân hàng thƣơng mại. Thông thƣờng các nghiệp vụ này mang lại 2/3 thu nhập cho ngân hàng, còn ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay thu nhập từ hoạt động tín dụng mang lại thƣờng chiếm 90% tổng thu nhập của mỗi ngân hàng. Nhƣng trong lĩnh vực này cũng chứa nhiều rủi ro bởi các khoản tiền vay bao giờ cũng có xác xuất vỡ nợ cao hơn với những tài sản có khác. Rủi ro tín dụng là rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào.
Rủi ro tín dụng nếu không đƣợc phát hiện và sử lý kịp thời sẽ làm nảy sinh các rủi ro khác.4 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng - Tổng số nợ xấu: Đây là chỉ tiêu phản ánh chung giá trị tuyệt đối của toàn bộ các khoản nợ xấu của ngân hàng. Chỉ tiêu này chƣa cho biết trong tổng số nợ không có khả năng thu hồi là bao nhiêu và nợ có khả năng thu hồi là bao nhiêu. Và nhƣ vậy, nó chƣa phản ánh một cách chính xác số nợ cho vay không có khả năng thu hồi của ngân hàng. Ví dụ: hai ngân hàng cùng có tổng số nợ xấu nhƣ nhau, nhƣng ngân hàng có số nợ xấu không có khả năng thu hồi cao hơn hoặc tiềm lực tài chính 7 thấp hơn sẽ có nguy cơ rủi ro cao hơn.
- Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ Tỷ lệ này càng cao thì khả năng rủi ro càng cao. Theo thông lệ quốc tế nếu nhƣ tỷ lệ này lớn hơn 7% thì ngân hàng bị coi là có chất lƣợng tín dụng yếu kém, còn nếu nhỏ hơn 5% thì đƣợc đánh giá là có chất lƣợng tín dụng tốt, các khoản cho vay an toàn. Tuy nhiên các con số đƣợc sử dụng để tính chỉ số này đƣợc đo tại một thời điểm nhất định nên chƣa phản ánh hoàn toàn chính xác chất lƣợng tín dụng của ngân hàng. - Tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro/ nợ xấu: Tỷ lệ này cho biết quỹ dự phòng rủi ro có khả năng bù đắp bao nhiêu cho các khoản nợ xấu khi chúng chuyển thành các khoản nợ mất vốn.
Nếu tỷ lệ này cao, có nghĩa là khả năng quỹ dự phòng rủi ro đủ bù đắp các thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng và ngƣợc lại.2 CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG 1.1 Nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất trong ngân hàng thƣơng mại. Nó bao gồm hai mặt: Sinh lời và rủi ro. Phần lớn các thua lỗ của các ngân hàng là từ hoạt động tín dụng. Song ở đây không có cách gì để loại trừ rủi ro tín dụng hoàn toàn mà phải quản lý để hạn chế những rủi ro đó.
Đứng trƣớc quyết định cho vay, cán bộ ngân hàng phải cân nhắc việc đánh đổi giữa sinh lời và rủi ro. Vì vậy, quản lý rủi ro tín dụng đƣợc coi là nội dung quản lý quan trọng của ngân hàng thƣơng mại.