CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG XÂY DỰNG. Khái quát chung về quản lý Nhà nước trong xây dựng. Quản lý nhà nước về xây dựng là phạm trù của quản lý nhà nước về kinh tế nói chung được vận dụng cụ thể cho hoạt động đầu tư xây dựng phù hợp với lý luận của khoa học quản lý, để hình thành khái niệm Quản lý Nhà nước (QLNN) về xây dựng phải xác định rõ chủ thể quản lý; đối tượng quản lý, mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể với đối tượng, phương thức tác động và mục tiêu của công tác quản lý cần đạt được. Chủ thể của QLNN về xây dựng là đại diện cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương đến địa phương.
Ở trung ương là Chính phủ và cơ quan giúp việc Chính phủ; ở địa phương là Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh, các quận, huyện, xã, phường và cơ quan giúp việc cho cơ quan chính quyền tương ứng; những người làm việc ở cơ quan QLNN được gọi là công chức nhà nước, tiền lương, phụ cấp trả cho cán bộ công chức lấy từ ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách. Đối tượng của QLNN về xây dựng là toàn bộ các hoạt động đầu tư xây dựng và các chủ thể quản lý, thực hiện các hoạt động đầu tư xây dựng đó. Mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng của QLNN về xây dựng bao gồm: quan hệ tác động quản lý từ chủ thể đến đối tượng bị quản lý, hiệu quả quản lý đạt được cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của quan hệ tác động này, quan hệ phản ánh, báo cáo kết quả thực hiện đạt được của phân hệ đối tượng bị quản lý đến chủ thể quản lý, nhờ quan hệ phản ánh báo cáo này mà chủ thể quản lý biết được hiệu quả của tác động quản lý do mình đưa ra đạt được hiệu quả cao hay thấp; từ quan hệ này chủ thể quản lý sẽ điều chỉnh hoạt động quản lý tiếp theo nhằm tạo ra kết quả đạt được cao hơn. Phương thức tác động của chủ thể QLNN về xây dựng là tác động thông qua hệ thống pháp luật, định hướng, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và các công cụ quản lý khác (gọi chung là cơ chế chính sách).
4 Mục tiêu của QLNN về xây dựng là toàn bộ chỉ tiêu kỳ vọng, mong đợi trong tương lai cần đạt được của QLNN về xây dựng. Các mục tiêu của QLNN về xây dựng trước hết phải thỏa mãn toàn bộ các mục tiêu về kinh tế như: mục tiêu về tài chính kinh tế; mục tiêu về xã hội; mục tiêu về quốc phòng an ninh; mục tiêu về môi trường và sự phát triển bền vững. QLNN về đầu tư xây dựng là hoạt động của cơ quan QLNN có thẩm quyền từ Trung ương đến địa phương dựa trên cơ sở quy hoạch, định hướng, pháp luật, chính sách và các công cụ quản lý khác để tác động đến hoạt động đầu tư xây dựng và các chủ thể tham gia quản lý, thực hiện nó nhằm điều chỉnh các hành vi của các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng theo đúng Pháp luật xây dựng đảm bảo cho các hoạt động đầu tư xây dựng hoàn thành tốt nhất các mục tiêu ban đầu đề ra. Công cụ QLNN về xây dựng là những phương tiện mà cơ quan QLNN về xây dựng sử dụng để tác động vào các hoạt động xây dựng và các chủ thể tham gia thực hiện các hoạt động đó nhằm đạt được tốt nhất các mục tiêu đặt ra ban đầu; bao gồm: Hệ thống pháp luật; Các chiến lược định hướng; quy hoạch; chương trình; kế hoạch: 1.
Các lĩnh vực của QLNN về xây dựng: Lĩnh vực quy hoạch xây dựng: Quy hoạch xây dựng là việc tổ chức không gian của đô thị, nông thôn và khu chức năng đặc thù; tổ chức công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tạo lập môi trường thích hợp cho người dân sinh sống tại các vùng lãnh thổ đảm bảo hài hòa lợi ích quốc gia với lợi ích cộng đồng, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Quy hoạch xây dựng được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch xây dựng bao gồm: Sơ đồ, bản vẽ, mô hình và thuyết trình. Quy hoạch xây dựng bao gồm các loại sau: Quy hoạch xây dựng vùng; Quy hoạch xây dựng đô thị; Quy hoạch xây dựng khu chức năng đặc thù; 5 Quy hoạch xây dựng nông thôn. Lĩnh vực chuẩn bị và thực hiện dự án đầu tư: Quản lý nhà nước đối với khảo sát xây dựng: Khảo sát địa hình; Khảo sát địa chất công trình; Khảo sát địa chất thủy văn; Khảo sát hiện trạng công trình; Khảo sát khác phục vụ cho hoạt động đầu tư xây dựng do người quyết định đầu tư quyết định.
Quản lý nhà nước đối với thiết kế xây dựng: Loại thiết kế sơ bộ trong báo cáo nghiên cứu tiền khả thi: Là thiết kế ở dạng khái lược phản ánh được tiêu chuẩn, cấp hạng công trình làm cơ sở để khái toán vốn đầu tư và thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi. Thiết kế cơ sở trong báo cáo nghiên cứu khả thi: Thiết kế cơ sở phản ánh được tiêu chuẩn cấp hạng công trình, các đặc tính và thông số kỹ thuật chủ yếu, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định. Thiết kế cơ sở là căn cứ để thẩm định, phê duyệt cùng báo cáo nghiên cứu khả thi. Thiết kế kỹ thuật trong giai đoạn thực hiện dự án: Là thiết kế triển khai để cụ thể hóa, chi tiết hóa các yêu cầu đã phê duyệt trong hồ sơ thiết kế cơ sở và là cơ sở để lập dự toán chi phí đầu tư xây dựng.
Thiết kế bản vẽ thi công trong giai đoạn thực hiện dự án: Là loại thiết kế để cụ thể hóa, chi tiết hóa các yêu cầu trong thiết kế kỹ thuật và là cơ sở để lập dự toán chi phí đầu tư xây dựng và chỉ dẫn cho quá trình thi công. Quản lý nhà nước đối với thi công xây dựng công trình: Quản lý chất lượng công trình xây dựng; 6 Quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình; Quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình; Quản lý chi phí đầu tư xây dựng; Quản lý hợp đồng xây dựng; Quản lý an toàn lao động và môi trường xây dựng. Lĩnh vực quản lý nhà nước sau khi công trình đưa vào khai thác, sử dụng: Bảo hành công trình xây dựng: Là việc khắc phục, sửa chữa, thay thế các thiết bị hư hỏng, khiếm khuyết do lỗi của nhà thầu gây ra. Bảo trì công trình xây dựng: Chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng công trình có trách nhiệm bảo trì công trình xây dựng, máy, thiết bị công trình.
Nội dung QLNN về xây dựng: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, đề án, quy hoạch, kế hoạch phát triển thị trường xây dựng và năng lực ngành xây dựng. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về xây dựng. Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về xây dựng. Tổ chức, quản lý thống nhất quy hoạch xây dựng, hoạt động quản lý dự án, thẩm định dự án, thiết kế xây dựng; ban hành, công bố các định mức và đơn giá xây dựng.
Hướng dẫn kiểm tra và đánh giá việc thực hiện công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng; quản lý chi phí đầu tư xây dựng và hợp đồng xây dựng; quản lý năng lực hoạt động xây dựng; thực hiện quản lý công tác đấu thầu trong hoạt động xây dựng; quản lý an toàn, vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng công trình. Cấp, thu hồi giấy phép, chứng chỉ, chứng nhận trong hoạt động đầu tư xây dựng. Kiểm tra, đánh giá, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động đầu tư xây dựng. 7 Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, phổ biến pháp luật xây dựng.
Đào tạo nguồn nhân lực tham gia hoạt động đầu tư xây dựng. Quản lý, cung cấp thông tin phục vụ hoạt động xây dựng. Quản lý lưu trữ hồ sơ xây dựng công trình. Hợp tác quốc tế trong hoạt động xây dựng.
Đánh giá chung về quản lý Nhà nước trong xây dựng ở Việt Nam. Trong những năm qua, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn phát triển xã hội, Quốc hội, Chính phủ, Bộ Xây dựng và các Bộ ngành đã và đang từng bước hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực xây dựng và phát triển đô thị, trong đó đã ban hành nhiều văn bản Luật như Luật Xây dựng năm 2014, Luật Đầu tư công năm 2014, Luật Quy hoạch đô thị năm 2009. Các văn bản Luật và hệ thống các văn bản dưới Luật đã thường xuyên được rà soát, điều chỉnh để từng bước đi vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý đầy đủ, thông thoáng, hướng tới sự phát triển bền vững của hệ thống đô thị Việt Nam. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện công tác QLNN về xây dựng ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập như trong các lĩnh vực: Quy hoạch xây dựng; chuẩn bị và thực hiện dự án đầu tư; giai đoạn đưa công trình vào khai thác, sử dụng.
Quản lý Nhà nước về quy hoạch xây dựng: Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1259/2011/QĐ-TTg ngày 26/7/2011. Hà Nội là một trong những Thành phố có tốc độ đô thị hoá nhanh nhất cả nước. Nhiều khu đô thị mới đã và đang hình thành làm thay đổi diện mạo của Thủ đô theo hướng tích cực và hiện đại, góp phần tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, chuyển đổi cơ cấu lao động, tạo lập môi trường đô thị với điều kiện sống mới hiện đại. Việc phê duyệt quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội được phê duyệt tạo tiền đề cho việc phát triển các khu đô thị mới, các dự án bất động sản lớn được đầu tư xây dựng.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đã phát sinh nhiều vấn đề bất cập. 8 Thời gian qua, tại một số dự án phát triển nhà ở, khu đô thị tại Hà Nội, tình trạng phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết, tỷ lệ 1/500 không căn cứ vào quy hoạch tỷ lệ 1/2000 diễn ra khá phổ biến.