CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ KINH DOANH MẠNG DI ĐỘNG 1. Tổng quan về kinh doanh - Quản lý kinh doanh của doanh nghiệp. Khái niệm về kinh doanh: Hiện có nhiều cách hiểu, định nghĩa khác nhau về kinh doanh như sau: Theo khoản 16, Điều 4, Luật doanh nghiệp năm 2014 định nghĩa: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.” Theo chuyên gia cho rằng: Kinh doanh là hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức nhằm mục đính đạt lợi nhuận qua một loạt các hoạt động như: quản trị, tiếp thị, kế toán, tài chính, sản xuất, bán hàng.
Kinh doanh được xem là hoạt động phong phú nhất của loài người, thường thông qua các thể chế kinh doanh như tập đoàn, công ty hoặc là hoạt động tự thân của các cá nhân như sản xuất - buôn bán nhỏ kiểu nhỏ lẻ hộ gia đình. Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế khi có nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những hình thức, phương pháp, phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (nó bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ.) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị và các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất. Vì vậy, có thể hiểu kinh doanh là một hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường. Khái niệm về quản lý kinh doanh 1.
Khái niệm: Khi tiến hành một hoạt động kinh doanh nào đó đều phải sử dụng tập hợp các nguồn vốn, phương tiện, con người,… và đưa các nguồn lực này vào hoạt động để sinh lời (lợi nhuận) cho doanh nghiệp và có đặc điểm chung là gắn liền với sự vận động của nguồn vốn theo các cách với mục tiêu đồng vốn quay vòng không ngừng, 8 Luan van để đến cuối chu kỳ kinh doanh số vốn lại tăng thêm. Mặt khác, chủ thể kinh doanh phải có được doanh thu để bù đắp chi phí và có lợi nhuận. Các hoạt động đó phải được quản lý với tính đặc thù rõ rệt với việc quản lý các hoạt động khác, gọi là quản lý kinh doanh. Quản lý kinh doanh là sự tác động của chủ thể quản lý diễn ra liên tục, có tổ chức tới đối tượng quản lý là tập thể những người lao động trong doanh nghiệp, việc sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực theo mục tiêu doanh nghiệp đáp ứng yêu pháp luật hiện hành và cơ hội để tiến hành hoạt động kinh doanh đạt tới mục tiêu của doanh nghiệp theo đúng pháp luật và thông lệ, trong điều kiện biến động của môi trường kinh doanh với hiệu quả tối ưu.
Chức năng của quản lý kinh doanh: Chức năng quản lý kinh doanh là kết quả của quá trình phân công lao động theo hướng chuyên môn hoá lao động quản lý đối với hoạt động kinh doanh. Chức năng là cơ sở để định ra các nhiệm vụ cần thực hiện lâu dài, trách nhiệm phải hoàn thành, quyền hạn được giao; là cơ sở để lựa chọn mô hình tổ chức, thiết lập bộ máy và bố trí nguồn nhân lực; đồng thời xác lập các mối quan hệ làm việc. Chức năng cần được xác định đúng đắn (phục vụ mục tiêu), rõ ràng (không hiểu sai), không trùng chéo. Nội dung chính của chức năng được thể hiện cô đọng qua tên gọi của mỗi tổ chức.
Từ chức năng tổng quát (cơ bản), được phân tách ra những chức năng cụ thể (loại việc lớn) cần thực hiện lần lượt mọi hoạt động của doanh nghiệp để kinh doanh có hiệu quả và không ngừng phát triển. Phân loại quản lý kinh doanh: * Phân loại theo nội dung quá trình quản lý: Theo các chuyên gia phân chia quá trình quản lý ra 5 chức năng cụ thể: Hoạch định, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra. Gần đây, có ý kiến dùng khái niệm "lãnh đạo" theo nghĩa điều hành thay cho 2 chức năng điều khiển và phối hợp, như vậy chỉ còn 4 chức năng cụ thể. Hai cách phân loại theo tiêu chí này (dù số lượng chức năng cụ thể có khác nhau) từ trước đến nay được coi là hợp lý, phù hợp với mọi cấp bậc quản lý trong mọi tổ chức, để xác định khối lượng công việc và nguồn lực.
9 Luan van * Phân loại theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh cần quản lý, gồm: - Quản lý tài chính (quản lý vốn, doanh thu, chi phí, lợi nhuận) - Quản lý bán hàng và thông tin kinh doanh (quản lý Marketing) - Quản lý khách hàng: Quan hệ khách hàng và chăm sóc khách hàng - Quản lý nhân lực (quản lý bộ máy và con người). Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý có tầm nhìn rộng để có các giải pháp cơ bản với sự chuẩn bị theo chiều sâu cho sự phát triển lâu dài. Vai trò của hoạt động quản lý kinh doanh Để tồn tại và không ngừng phát triển, con người có thể hành động riêng lẻ, mà cần tổ chức phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng vào những mục tiêu chung. Quá trình tổ chức sản xuất ra của cải vật chất và tổ chức cuộc sống an toàn của cộng đồng xã hội ngày càng được thực hiện trên quy mô lớn hơn với tính chất phức tạp hơn; Đòi hỏi có sự phân công, điều khiển để liên kết các con người trong tổ chức.
Chính từ sự phân công chuyên môn hoá, hợp tác hoá lao động và sự quy định lẫn nhau giữa sự vận động của lao động quá khứ với lao động sống đã làm xuất hiện một chức năng đặc biệt; chức năng quản lý.Mác đã chỉ ra: "Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện trên một quy mô tương đối lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý". Ông đã đưa ra một hình tượng dễ hiểu về vai trò của quản lý: "Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng". Sự quản lý cần thiết đối với mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội, từ mỗi đơn vị sản xuất - kinh doanh đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân; từ một đơn vị dân cư đến một đất nước và những hoạt động trên phạm vi khu vực, phạm vi toàn cầu. Để thực hiện các nhiệm vụ của mình, trong thực tiễn hoạt động kinh doanh, các nhà quản lý phải thực hiện nhiều loại công việc khác nhau, phải ứng xử theo những cách khác nhau: Với cấp trên, cấp dưới, khách hàng, nhà cung ứng, cổ đông, chính quyền và xã hội.
Từ đó cho thấy đối với bản thân mỗi doanh nghiệp thì quản lý kinh doanh có vai trò những vai trò cực kỳ quan trọng, thể hiện thành 10 vai trò khác nhau và chia thành 3 nhóm: 10 Luan van 1. Nhóm vai trò quan hệ với con người: Vai trò đại diện, có tính chất nghi lễ trong tổ chức. Có nghĩa, bất cứ một tổ chức nào cũng đều phải có người đại diện cho tổ chức đó nhằm thực hiện các giao dịch, đối thoại với các cá nhân và tổ chức bên ngoài. Ngay cả từng bộ phận trong tổ chức cũng phải có người đứng đầu bộ phận đó để lĩnh hội các ý kiến, chính sách, kế hoạch của cấp trên.
Ví dụ, khi đang đứng ở cửa chào khách, người chủ doanh nghiệp đang đóng vai trò đại diện cho doanh nghiệp đó. Vai trò này cho thấy hình ảnh của tổ chức mà họ đang quản lý. Vai trò lãnh đạo: Vai trò này đòi hỏi nhà quản lý phải chỉ đạo và điều phối những hoạt động của những người dưới quyền, bố trí nhân sự, đôn đốc người khác làm việc, đồng thời phải kiểm tra, đảm bảo chắc chắn rằng mọi việc diễn ra theo đúng kế hoạch dự kiến. Vai trò lãnh đạo phản ảnh sự ảnh hưởng, phối hợp và kiểm tra của nhà quản lý đối với cấp dưới của mình.
Vai trò liên lạc: Thể hiện mối quan hệ của nhà quản lý đối với người khác cả bên trong và bên ngoài tổ chức. Vai trò này buộc nhà quản lý phải can dự vào những mối liên hệ giữa các cá nhân ở trong hay ngoài tổ chức nhằm góp phần hoàn thành công việc được giao của doanh nghiệp. Nhóm vai trò thông tin: Vai trò tiếp nhận và thu thập thông tin liên quan đến doanh nghiệp, vai trò này đòi hỏi nhà quản lý phải biết cách xây dựng hệ thống thông tin nội bộ, phải thường xuyên xem xét, phân tích môi trường bên trong cả bên ngoài tác động đến hoạt động kinh doanh đơn vị nhằm xác định những cơ hội cũng như những khó khăn có thể xảy ra đối với doanh nghiệp. Vai trò này được thực hiện thông qua việc nghe báo cáo, dự báo, qua sách báo, văn bản hoặc qua trao đổi tiếp xúc với mọi người.
Vai trò phổ biến thông tin: Sau khi quyết định một vấn đề nào đó, nhà quản lý cần phổ biến quyết định đến các bộ phận, làm cho mọi người cùng được chia sẻ thông tin để góp phần hoàn thành mục tiêu chung của doanh nghiệp. Vai trò cung cấp thông tin cho bên ngoài: Nhà quản lý thay mặt cho doanh nghiệp của mình cung cấp các thông tin cho bên ngoài để giải thích, bảo vệ hay tranh thủ một sự đồng tình, ủng hộ nào đó. Nhóm vai trò quyết định: Vai trò người chủ trì: Các cá nhân trong doanh nghiệp đều có thể đề xuất những sáng kiến để tạo ra những chuyển biến tốt cho doanh nghiệp, nhưng do phạm vi công việc hạn chế và không đủ thông tin nên họ thường chỉ đề xuất các sáng kiến liên quan đến công việc của mình. Nhà quản lý có nhiều thông tin, tầm nhìn bao quát hơn nên có thể đưa ra các đề xuất quan trọng, tạo ra thay đổi lớn.
Vai trò giải quyết xáo trộn: Nhà quản lý đưa ra các quyết định hay thi hành biện pháp chấn chỉnh nhằm đối phó với những biến cố bất ngờ kể cả khách quan và chủ quan ở trong hay ngoài doanh nghiệp. Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng có những trường hợp xung đột xảy ra trong nội bộ dẫn tới xáo trộn tổ chức như: Đình công của công nhân (người lao động), mâu thuẫn và mất đoàn kết giữa các thành viên, bộ phận… Nhà quản lý phải kịp thời đối phó, giải quyết những xáo trộn đó để đưa doanh nghiệp sớm trở lại sự ổn định. Vai trò phân phối các nguồn lực: Nhà quản lý phải quyết định việc phân phối các nguồn lực cho ai? số lượng bao nhiêu/ khi nào?….