Chương I - TỔNG QUAN CHUNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI, TRONG NƯỚC VÀ THÀNH PHỐ NINH BÌNH 1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC Hình 1.1 Hệ thống thoát nước sơ khai (Nguồn: Tham luận tại Hội thảo Thoát nước đô thị bền vững tại Anh ngày 20/3/2003) 1. Tổng quan về thoát nước trên thế giới Thoát nước thải có tầm ảnh hưởng rất lớn đến mọi hoạt động của con người nhất là quy hoạch hạ tầng đô thị, vấn đề này đã được nghiên cứu và phát triển thành môn khoa học kỹ thuật. Ở các nước trên thế giới nhất là các nước phát triển đã đạt được một HTTN hoàn thiện, hiện đại đạt tỷ lệ người dân được hưởng thoát nước tại các thành phố lên tới 90%, đặc biệt tại Mỹ đã đạt được 100%.
Việc áp dụng CNTT vào quản lý vận hành HTTN là bước nhảy vọt trong quản lý, vận hành, sửa chữa HTTN, nước đi tiên phong là nước Mỹ đã nghiên cứu thiết kế được các phần mềm về thiết kế và quản lý như: EPANET, PCSWNN, MAUS. Trên những kết quả đó chúng ta cần nghiên cứu ứng dụng , bổ sung vào Việt Nam thích ứng với đô thị vùng nhiệt đới. Các hệ thống thoát nước truyền thống thường được thiết kế để vận chuyển nước mưa ra khỏi nơi phát sinh càng nhanh càng tốt. Chi phí cho xây dựng và vận hành, bảo dưỡng các đường cống thoát nước thường rất lớn, trong khi công suất của chúng lại chỉ có giới hạn và không dễ nâng cấp.
Cách làm này dẫn đến 5 nguy cơ ngập lụt, xói mòn đất và ô nhiễm ở vùng hạ lưu tăng. Việc dẫn dòng chảy bề mặt đi xa và thải còn làm mất khả năng bổ cập tại chỗ cho các tầng nước ngầm quý giá. Phát hiện và khắc phục những tồn tại trên, gần đây, người ta đã nghiên cứu và áp dụng các giải pháp kỹ thuật thay thế, theo phương thức tiếp cận mới: hướng tới việc duy trì những đặc thù tự nhiên của dòng chảy về dung lượng, cường độ và chất lượng; kiểm soát tối đa dòng chảy từ nguồn, giảm thiểu tối đa những khu vực tiêu thoát nước trực tiếp, lưu giữ nước tại chỗ và cho thấm xuống đất, đồng thời kiểm soát ô nhiễm. Đó chính là những nguyên lý của SUDS.2 Nguyên tắc thoát nước bề mặt bền vững (Nguồn: Tham luận tại Hội thảo Thoát nước đô thị bền vững 6 tại Anh ngày 20/3/2003) (a) Dòng chảy tập trung do bề mặt phủ đô thị bị thay đổi; (b) Trở về dòng chảy tự nhiên ban đầu nhờ các giải pháp làm chậm dòng chảy bề mặt; (c) Giảm lưu lượng nước cần thoát nhờ các giải pháp làm chậm dòng chảy và thấm 1.
Tổng quan về thoát nước của Việt Nam Ở Việt Nam, cho đến nay, đã có khoảng 760 đô thị. Tỷ lệ các hộ đấu nối vào mạng lưới thoát nước đô thị nhiều nơi còn rất thấp. Các tuyến cống được xây dựng và bổ sung chắp vá, có tổng chiều dài ngắn hơn nhiều so với chiều dài đường phố, ngõ xóm. Nhiều tuyến cống có độ dốc kém, bùn cặn lắng nhiều, không ngăn được mùi hôi thối.
Nhiều tuyến cống lại không đủ tiết diện thoát nước hay bị phá hỏng, xây dựng lấn chiếm, gây úng ngập cục bộ. Úng ngập thường xuyên xảy ra nhiều nơi về mùa mưa. Nước thải nhà vệ sinh phần lớn chảy qua bể tự hoại rồi xả ra hệ thống thoát nước chung tới kênh, mương,ao hồ tự nhiên hay thấm vào đất. Nước xám và nước mưa chảy trực tiếp ra nguồn tiếp nhận.
Mới chỉ có gần 10% nước thải đô thị được xử lý. Ở nhiều khu đô thị mới, mặc dù nước thải sinh hoạt đã được tách ra khỏi nước mưa từ ngay trong công trình, nhưng do sự phát triển không đồng bộ và sự gắn kết kém với hạ tầng kỹ thuật khu vực xung quanh, nên khi ra đến bên ngoài, các loại nước thải này chưa được xử lý, lại đấu vào một tuyến cống chung, gây ô nhiễm và lãng phí. Ngoài ra, cốt san nền của nhiều khu đô thị, đường giao thông và các khu vực lân cận không được quản lý thống nhất, nên gây tác động tiêu cực, ảnh hưởng lẫn nhau. Phí thoát nước hay phí bảo vệ môi trường do nước thải quá thấp, không đủ trang trải chi phí quản lý.
Biến đối khí hậu cũng đang ngày càng trở thành những thách thức rất lớn đối với công tác quy hoạch đô thị và xây dựng các hệ thống hạ tầng kỹ thuật, nhất là ở các đô thị ven biển. Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm 2008, đến năm 2050, mực nước biển ở Việt Nam sẽ dâng cao thêm 30 cm. Biến đổi khí hậu còn dẫn đến 7 những hệ quả như lượng mưa tăng, chế độ thủy văn đô thị trái với quy luật. ảnh hưởng lớn đến việc thu gom và tiêu thoát nước thải, nước bề mặt.
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THÀNH PHỐ NINH BÌNH 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên a. Vị trí địa lý Hình 1.3: Bản đồ hành chính thành phố Ninh Bình (Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia) Ninh Bình tiếp giáp với 4 tỉnh: Hòa Bình ở phía tây bắc, Hà Nam ở phía bắc, Nam Định ở phía đông, Thanh Hóa ở phía tây nam, biển (vịnh Bắc Bộ) ở phía đông nam Trung tâm tỉnh là thành phố Ninh Bình cách thủ đô Hà Nội 93 km về phía nam. Địa hình, địa mạo Ở vị trí điểm mút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng, Ninh Bình bao gồm cả ba loại địa hình.
Vùng đồi núi hay còn gọi là vùng “bán sơn địa” ở 8 phía Tây và Tây Nam bao gồm các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp; vùng đồng bằng và vùng ven biển ở phía Đông và phía Nam thuộc 2 huyện Kim Sơn và Yên Khánh. Xen giữa 2 vùng lớn là vùng chiêm trũng chuyển tiếp. Ninh Bình có bờ biển dài 18km. Bờ biển Ninh Bình hàng năm được phù sa bồi đắp lấn ra trên 100m.
Địa hình thành phố tại các khu vực đã xây dựng tương đối bằng phẳng, cao độ các khu không chênh lệch nhau nhiều, đều ở cao độ từ (+2,50m) (+3,0m). Trừ đường quốc lộ 1A có cao độ > (+3,0m), cao độ trung bình của quốc lộ 1A đoạn qua thành phố Ninh Bình là (+3,5m). - Các khu ruộng có cao độ từ (+0,6 m) (+1,8 m) - Cao độ của các làng xóm hiện trạng < (+2,5m) - Đường sắt đoạn qua thành phố có cao độ trung bình (+3,9m) - Toàn bộ thành phố Ninh Bình đều nằm trong đê sông Đáy. Cao độ mặt đê hiện nay là (+6,0m).
- Trong thành phố có núi Non Nước và núi Cánh Diều là các điểm cao nhất cả vùng. Đặc điểm khí hậu Ninh Bình thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết mang đặc thù nóng và ẩm, chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô (thuộc vùng khí hậu A3 trong quy chuẩn xây dựng Việt Nam - Bộ xây dựng). Theo số liệu đo đạc của trạm Ninh Bình 5 năm gần đây như sau: - Lượng mưa của Ninh Bình như sau: Thành phố Ninh Bình có lượng mưa phân bố rất không đều các tháng trong năm tháng 1, 2,3 rất ít mưa, mưa chỉ tập trung vào các tháng 7, 8, 9. Lượng mưa cũng có xu hướng giảm nhẹ trong những năm trở lại đây.
Lượng mưa của tháng trong năm (Theo nguån: Niªn gi¸m thèng kª 2010 cña Côc thèng kª Ninh B×nh) + Lượng mưa trung bình năm: 135.68mm + Lượng mưa trung bình tháng cao nhất: 343.6mm + Lượng mưa trung bình tháng thấp nhất: 17.3mm - Bão thường xuất hiện vào tháng 7, 8, 9 gây mưa to, gió lớn. - Độ ẩm không khí: N¨m (mm) 2005 2007 2008 2009 2010 B×nh qu©n n¨m 87. Độ ẩm các khí trung bình các tháng trong năm (Theo nguån: Niªn gi¸m thèng kª 2010 cña Côc thèng kª Ninh B×nh) + Độ ẩm trung bình năm: 83.8% + Độ ẩm trung bình tháng cao nhất: 87,6% + Độ ẩm trung bình tháng thấp nhất: 76.4% - Nhiệt độ không khí Nhiệt độ phân biệt hai mùa dõ dệt trong năm chênh khoảng hơn 10 độ, theo dõi những năm gần đây thây có sự tăng lên của nhiệt độ do chịu ảnh hưởng trung của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu. Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm (Theo nguån: Niªn gi¸m thèng kª 2010 cña Côc thèng kª Ninh B×nh) Nhiệt độ trung bình năm: 23,860C 11 Nhiệt độ cao nhất của trung bình tháng trong năm: 29,440C Nhiệt độ thấp nhất trung bình tháng trong năm: 16,340C d.
Điều kiện thuỷ văn - Sông, ngòi. Thành phố Ninh Bình chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văn Sông Đáy và Sông Vân. Sông Đáy đoạn tại Ninh Bình rộng 250 - 300m, lưu lượng nước mùa kiệt Q = 230 m3/s. Vào mùa mưa, lưu lượng nước sông Đáy khá lớn chủ yếu do sông Tích, sông Hoàng Long, sông Đào Nam Định chảy sang, đặc biệt là những năm có lũ.
Sông Vân có chiều rộng 30-50 m, bắt nguồn từ âu thuyền sông Vân chảy qua thành phố với chiều dài khoảng 6 km nối với sông Vạc phía Nam. Ngoài nhiệm vụ giao thông đường thủy, tiêu thoát nước cho thành phố, còn cung cấp nước tưới cho một số huyện lân cận. Sông Vạc là một con sông nhỏ của tỉnh Ninh Bình có chiều rộng trung bình 25-50m, chiều dài 14,6km, lưu lượng trung bình mùa kiệt Q = 1,85m3/s. Sông Vạc do một số phân lưu của sông Hoàng Long như các sông Chanh, sông Sào Khê, sông Luồn, sông Vo hợp lưu tại địa phận huyện Hoa Lư chảy qua ranh giới giữa hai huyện Yên Mô và Yên Khánh, chảy qua huyện Kim Sơn rồi hội lưu vào sông Đáy.
Nước sông Vạc có hiện tượng nhiễm mặn và cũng ít được dùng vào mục đích tưới tiêu. - Mực nước : Mực nước sông đáy bình quân tháng 7-9 chân triều cao các tháng vụ mùa ứng với tần suất Trạm đo Ninh Bình Tháng đo 7 8 9 P = 10% 1,73 2,07 2,32 P = 20% 1,58 2,91 2,10 P = 50% 1,32 1,64 1,72 12 Bảng 1. Mực nước sông đáy bình quân tháng 7-9 Mực nước lũ cao nhất sông đáy tại ninh bình một số năm Năm 1968 1975 1978 1985 Mực nước H (m) +3. Mực nước lũ sông đáy bình quân năm Mực nước lớn nhất thượng hạ lưu sông vân theo tần suất Tần suất P% 1% 1,5% 2% 5% 10% Mực nước H Thượng lưu sông Vân 4,25 4,12 4,03 3,71 3,44 Hạ lưu sông Vân 2,67 2,58 2,51 2,28 2,09 Bảng 1.
Mực nước lớn nhất thượng và hạ lưu e. Đặc điểm địa chất thuỷ văn Thành phố Ninh Bình chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văn sông Đáy và sông Vân. Sông Đáy đoạn qua Ninh Bình rộng 250-300m, lưu lượng nước mùa kiệt Q=230m3/s.