Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế nông nghiệp với đề tài "Nâng cao hiệu quả sản xuất mô hình nuôi tôm nước lợ ở vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng" do nghiên cứu sinh Trần Ngọc Tùng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Văn Trịnh, bảo vệ tại Trường Đại học Cần Thơ năm 2018 (mã ngành: 9 62 01 15, mã số học viên: 62091115). Luận án thuộc hướng tiếp cận định lượng kinh tế học sản xuất nông nghiệp, tập trung đo lường và đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kinh tế cùng các yếu tố chi phối năng suất và lợi nhuận của nông hộ.
Tính cấp thiết của nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn phát triển ngành thủy sản tại vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng – khu vực hạ lưu sông Hậu tiếp giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 72 km. Năm 2016, diện tích nuôi tôm nước lợ của tỉnh đạt 46.765 ha (chiếm 68,37% diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh), sản lượng đạt 82.200 tấn (chiếm 55,92% sản lượng thủy sản nuôi trồng). Tuy nhiên, ngành hàng tôm nước lợ của địa phương đối mặt với nhiều trở ngại: diện tích tôm bị thiệt hại lớn, dịch bệnh diễn biến phức tạp, giá vật tư đầu vào tăng cao, giá tôm nguyên liệu không ổn định, môi trường vùng nuôi bị ô nhiễm và tỷ lệ tôm nguyên liệu nhập khẩu tăng cao. Việc thí điểm các tiêu chuẩn quốc tế như GlobalGAP gặp khó khăn trong việc mở rộng diện tích do chi phí sản xuất tăng cao trong khi giá thu mua chưa có sự phân hóa tương xứng.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các nghiên cứu trước đây tại Sóc Trăng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu tập trung vào các khía cạnh kỹ thuật nuôi, tài chính đơn thuần, môi trường ao nuôi hoặc chỉ khảo sát riêng lẻ từng đối tượng. Chưa có công trình nào nghiên cứu đồng thời ba mô hình nuôi tôm nước lợ phổ biến (tôm thẻ chân trắng thâm canh, tôm sú thâm canh và tôm sú quảng canh cải tiến) bằng phương pháp tiếp cận hàm biên ngẫu nhiên nhằm đo lường hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kinh tế và phân tích các nhân tố chi phối tính phi hiệu quả của nông hộ.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án:
- Mục tiêu tổng quát: Phân tích thực trạng phát triển nghề nuôi tôm nước lợ, những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của nông hộ nuôi tôm nước lợ ở vùng ven biển; từ đó đề xuất giải pháp cải thiện hiệu quả sản xuất, nâng cao thu nhập cho người nuôi tôm nước lợ tỉnh Sóc Trăng.
- Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích thực trạng phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của nông hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh (TTCTTC), tôm sú thâm canh (TSTC) và tôm sú quảng canh cải tiến (TSQCCT) ở vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng.
- Phân tích năng suất, lợi nhuận, hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả kinh tế (EE) và những yếu tố ảnh hưởng đến TE, EE của nông hộ nuôi TTCTTC, TSTC và TSQCCT tại địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất giải pháp cải thiện hiệu quả sản xuất trong nuôi tôm nước lợ tại tỉnh Sóc Trăng.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 3 câu hỏi:
- Thực trạng phát triển sản xuất, tình hình tiêu thụ tôm nuôi nước lợ của nông hộ nuôi TTCTTC, TSTC và TSQCCT như thế nào?
- Năng suất, lợi nhuận và TE, EE của nông hộ nuôi TTCTTC, TSTC, TSQCCT như thế nào?
- Để nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời cải thiện thu nhập cho nông hộ nuôi tôm nước lợ, những giải pháp, chính sách nào cần thực thi?
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm 3 giả thuyết:
- Không có sự khác biệt về nguồn lực đầu vào sản xuất giữa nông hộ nuôi TTCTTC, TSTC và TSQCCT ở vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng.
- Không có sự khác biệt về hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào và chi phí sản xuất giữa nông hộ nuôi TTCTTC, TSTC và TSQCCT ở vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng.
- Không có sự khác biệt về hiệu quả kỹ thuật, kinh tế giữa nông hộ nuôi TTCTTC, TSTC và TSQCCT ở vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng sản xuất, các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, lợi nhuận, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kinh tế và các nhân tố tác động đến TE, EE của ba mô hình nuôi tôm nước lợ.
- Phạm vi không gian: Vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng gồm huyện Mỹ Xuyên, huyện Trần Đề và thị xã Vĩnh Châu. Đây là ba địa bàn trọng điểm chiếm 94,9% diện tích nuôi tôm nước lợ toàn tỉnh năm 2016 theo quy hoạch thủy sản của Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Phạm vi đối tượng khảo sát: 310 nông hộ trực tiếp nuôi tôm nước lợ thuộc ba mô hình TTCTTC, TSTC và TSQCCT.
- Phạm vi thời gian: Số liệu sơ cấp tập trung vào vụ thu hoạch tôm gần nhất (tháng 6 và tháng 7 năm 2016); chuỗi dữ liệu thứ cấp được thu thập trong các giai đoạn 2000-2016 và 2010-2016.
- Phạm vi nội dung: Giới hạn trong phân tích khía cạnh kinh tế kỹ thuật của nông hộ sản xuất; chưa khảo sát các tác nhân cung ứng vật tư đầu vào và các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu trong chuỗi giá trị tôm.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng hợp hệ thống cơ sở lý thuyết và các công trình thực nghiệm về đo lường hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Nền tảng đo lường hiệu quả bắt đầu từ lý thuyết của Farrell (1957), phân rã hiệu quả sản xuất thành hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency - TE) và hiệu quả giá/phân bổ (Allocative Efficiency - AE hay Cost Efficiency - CE), với hiệu quả kinh tế (Economic Efficiency - EE) là tích số giữa TE và AE. Tiếp sau Farrell, các nhà kinh tế học như Aigner và Chu (1968), Aigner et al. (1977), Meeusen và Van Den Broeck (1977), Kopp (1981), Coelli et al. (2005) đã phát triển các phương pháp đo lường biên hiệu quả.
Về phương pháp luận đo lường, luận án điểm lại hai nhánh tiếp cận chính:
- Phương pháp tham số biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis - SFA): Được phát triển bởi Aigner et al. (1977) và Meeusen và Van Den Broeck (1977). Các công trình quốc tế và trong nước sử dụng SFA tiêu biểu gồm Timmer (1971), Bagi (1982), Bagi và Huang (1983), Bagi (1984), Ali và Flinn (1989), Carter và Zlang (1994), Poulomi Bhattacharya (2005) đối với nghề nuôi tôm; Nguyễn Văn Song (2005), Phạm Lê Thông (2011, 2015), Phạm Lê Thông và cộng sự (2011), Nguyễn Hữu Đặng (2011, 2012, 2017), Đỗ Thị Hương và Nguyễn Văn Ngọc (2013), Nguyễn Văn Tiển và Phạm Lê Thông (2014), Ghee-Thean et al. (2016). SFA có ưu điểm là tách biệt được thành phần sai số ngẫu nhiên do các yếu tố khách quan ngoài tầm kiểm soát (thời tiết, dịch bệnh) với thành phần phi hiệu quả kỹ thuật, cho phép kiểm định các giả thuyết thống kê của các tham số ước lượng.
- Phương pháp phi tham số phân tích bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA): Khởi xướng bởi Charnes, Cooper và Rhodes (1978 - mô hình CCR) và Banker, Charnes và Cooper (1984 - mô hình BCC). Các nghiên cứu áp dụng DEA gồm Quan Minh Nhựt (2005, 2009), Nguyễn Khắc Minh (2008), Hoàng Văn Cường (2009), Đặng Hoàng Xuân Huy và cộng sự (2009, 2013), Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2015). Luận án chỉ rõ hạn chế của DEA là không cho phép kiểm định giả thuyết thống kê, rất nhạy cảm với các quan sát ngoại lai hoặc sai số ngẫu nhiên, và quy toàn bộ khoảng cách chênh lệch về đường biên thành sự phi hiệu quả.
- Các hướng nghiên cứu kết hợp cả hai phương pháp SFA và DEA: Tiêu biểu có Dawson (1985), Abdul Wadud và White (2000), Lê Kim Long và Đặng Hoàng Xuân Huy (2015).
Về nghiên cứu thực nghiệm trong ngành thủy sản và tôm nước lợ:
- Lê Xuân Sinh và Nguyễn Trung Chánh (2009) phân tích các chỉ tiêu kỹ thuật và yếu tố ảnh hưởng đến năng suất tôm sú sinh thái ở Cà Mau bằng hàm hồi quy Cobb-Douglas nhưng chưa đo lường TE.
- Phan Văn Hòa (2009) dùng hàm Cobb-Douglas và hàm xác suất phi tuyến Logit để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và rủi ro mất mùa tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long.
- Đặng Hoàng Xuân Huy và cộng sự (2009) áp dụng DEA mô hình CRS phân tích 62 trại tôm sú thương phẩm tại Nha Trang, ghi nhận 25% số trại đạt TE và 75% không đạt TE. Đặng Hoàng Xuân Huy và cộng sự (2013) tiếp tục phân tích mô hình tối đa hóa đầu ra tại Phú Yên, chỉ ra 8,06% ao đạt hiệu quả theo mô hình CRS và 16,13% đạt hiệu quả theo mô hình VRS.
- Nguyễn Thanh Long và cộng sự (2010b) nghiên cứu các mô hình nuôi thủy sản ven biển tỉnh Sóc Trăng, ghi nhận mật độ thả giống của TSTC là 26,29 con/m2, bán thâm canh là 15,02 con/m2, quảng canh cải tiến là 7,56 con/m2, tôm - lúa là 7,74 con/m2; năng suất tôm sú thâm canh đạt 4.504 kg/vụ/ha và quảng canh cải tiến đạt 919 kg/vụ/ha; lợi nhuận TSTC đạt 183,1 triệu đồng/ha, quảng canh cải tiến đạt 50,4 triệu đồng/ha. Tuy nhiên công trình chỉ dừng lại ở phân tích tài chính và kỹ thuật mô tả.
- Trần Ngọc Tùng và Bùi Văn Trịnh (2015) dùng phương pháp DEA phân tích hiệu quả kinh tế tại Sóc Trăng, cho thấy EE của mô hình TSTC đạt trung bình 55%, tôm thẻ chân trắng đạt 61% và tôm sú quảng canh cải tiến đạt 63%.
- Phạm Lê Thông và Đặng Thị Phương Mai (2015) ước lượng hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên SFA cho 398 hộ nuôi tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long, ghi nhận mức EE trung bình đạt 49%, thất thoát do kém hiệu quả bình quân là 263 triệu đồng/vụ/ha.
Vị trí của luận án: Luận án kế thừa cách tiếp cận đo lường hiệu quả của Farrell (1957) và phương pháp tham số biên ngẫu nhiên (SFA). Luận án giải quyết khoảng trống học thuật bằng việc phân tích đồng thời hàm sản xuất biên ngẫu nhiên, hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên và mô hình hồi quy Tobit trên cùng một địa bàn trọng điểm cho ba mô hình sản xuất tôm nước lợ khác nhau (TTCTTC, TSTC, TSQCCT), xác định chính xác mức độ biến động năng suất và lợi nhuận do các yếu tố phi hiệu quả kỹ thuật và phi hiệu quả kinh tế gây ra.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên các khái niệm sinh thái thủy sản, lý thuyết kinh tế học sản xuất và lý thuyết hệ thống trong nuôi trồng thủy sản:
- Khái niệm môi trường nước: Theo Bách khoa Toàn thư Việt Nam, nước mặn có hàm lượng muối NaCl hòa tan trên 10 g/l; nước lợ có độ mặn từ 1 đến 10 g/l (1 đến 10 ppt). Theo phân loại kỹ thuật Anh-Mỹ, nước lợ chứa từ 0,5 - 1,0 đến 17 - 30 ppt.
- Đặc tính sinh học đối tượng nuôi:
- Tôm sú (Penaeus monodon): Phân bố rộng ở vùng xích đạo từ Ấn Độ Dương đến Nhật Bản và Việt Nam. Biên độ nhiệt thích ứng 14 - 35°C (thích hợp 28 - 30°C); độ mặn 0,2 - 40‰ (thích hợp 15 - 32‰, trong ao thâm canh/bán thâm canh thích ứng tốt ở 1 - 10‰); pH thích hợp 7,5 - 9,0; oxy hòa tan 3 - 11 mg/l; H2S cho phép tối đa 0,03 mg/l. Tôm có tập tính ăn tạp thiên về động vật sống, chu kỳ lột xác làm tăng trọng lượng 10 - 15%.
- Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei): Loài nhiệt đới, sống đáy bùn cát, có giới hạn thích ứng rộng: độ mặn 0 - 45‰ (thích hợp 7 - 34‰, tối ưu 10 - 20‰), nhiệt độ 15 - 33°C (thích hợp 27 - 33°C). Nhu cầu protein khẩu phần thấp hơn tôm sú (20 - 35%), hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) đạt từ 1,1 - 1,3. Tôm lớn nhanh trong 60 ngày đầu, chu kỳ lột xác từ 1 - 3 tuần, có khả năng kháng bệnh tương đối tốt và cho phép nuôi ở mật độ cao từ 50 - 80 con/m2.
- Khung lý thuyết phân tích: Luận án vận dụng lý thuyết hệ thống trong nuôi trồng thủy sản theo mô hình Đầu vào - Quá trình - Đầu ra (Guerrero, 1974; Aima, 1996; Culhi, 1998; Nguyễn Quang Linh, 2011) kết hợp lý thuyết đo lường hiệu quả của Farrell (1957).
Phương pháp nghiên cứu định lượng thực tế:
- Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên (SFA) dạng Cobb-Douglas:
Công thức mô hình:
$$\ln Y_i = \ln[f(x_i; \beta)] + (v_i - u_i)$$
Trong đó: $Y_i$ là năng suất tôm nuôi của nông hộ thứ $i$; $x_i$ là vector các yếu tố đầu vào (con giống, thức ăn, nhiên liệu, hóa chất thuốc thú y, chi phí sửa chữa thiết bị dụng cụ, công lao động); $\beta$ là hệ số co giãn cần ước lượng. Sai số ngẫu nhiên đối xứng $v_i \sim N(0, \sigma_v^2)$ đo lường các cú sốc ngoại sinh không quan sát được; sai số một đuôi không âm $u_i \sim |N(0, \sigma_u^2)|$ đo lường sự kém hiệu quả kỹ thuật (phi TE).
Chỉ số hiệu quả kỹ thuật được tính bằng:
$$TE_i = E[\exp(-u_i) | e_i]$$
Tỷ số phương sai $\gamma = \sigma_u^2 / (\sigma_v^2 + \sigma_u^2)$ nhận giá trị từ 0 đến 1 (Corra và Battese, 1992) dùng để giải thích tỷ lệ phần trăm biến động của sản lượng thực tế do sự phi hiệu quả kỹ thuật tạo ra.
- Hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Profit Function):
Được sử dụng nhằm đánh giá mức lợi nhuận tối đa của nông hộ tương ứng với mức giá của các yếu tố đầu vào chuẩn hóa và các yếu tố cố định, từ đó xác định mức hiệu quả kinh tế (EE) và tỷ lệ phương sai giải thích mức độ phi hiệu quả kinh tế (phi EE).
- Mô hình hồi quy Tobit:
Do các chỉ số hiệu quả kỹ thuật ($TE_i$) và hiệu quả kinh tế ($EE_i$) bị chặn trong khoảng từ 0 đến 1, mô hình hồi quy Tobit được áp dụng để xác định các yếu tố nông hộ và kỹ thuật tác động đến TE và EE:
$$Y_i^* = \delta_0 + \sum \delta_j Z_{ji} + \epsilon_i$$
Trong đó $Z_{ji}$ bao gồm các biến: kinh nghiệm nuôi, diện tích mặt nước, mật độ thả giống, thời gian nuôi, tỷ lệ sống của tôm, nguồn thông tin, lao động gia đình.
- Phương pháp phân tích chi phí - lợi nhuận (CBA) và thống kê mô tả:
Tính toán tổng chi phí sản xuất, chi phí biến đổi, chi phí cố định, doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên chi phí và phân tích cơ cấu chi phí.
Nguồn số liệu:
- Số liệu thứ cấp: Thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương, Chi cục Thủy sản tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2000-2016.
- Số liệu sơ cấp: Khảo sát phỏng vấn trực tiếp 310 nông hộ nuôi tôm nước lợ tại ba địa bàn ven biển gồm huyện Mỹ Xuyên, huyện Trần Đề và thị xã Vĩnh Châu cho vụ nuôi kết thúc vào tháng 6 và tháng 7 năm 2016.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 thiết lập cơ sở nghiên cứu của đề tài. Tác giả trình bày tổng quan bối cảnh ngành tôm Việt Nam và vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nêu bật vai trò kinh tế mũi nhọn của nghề nuôi tôm tại tỉnh Sóc Trăng khi giá trị sản xuất thủy sản chiếm trên 90% cơ cấu xuất khẩu nông nghiệp của tỉnh. Đồng thời, chương này chỉ ra 7 nhóm nguyên nhân gây trở ngại cho nghề nuôi tôm theo Lê Xuân Sinh và cộng sự (2012): quy hoạch và đầu tư chưa hợp lý; hạ tầng thủy lợi thiếu đồng bộ; lạm dụng thức ăn, hóa chất và ô nhiễm từ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật vùng lúa lân cận; dịch bệnh diễn biến phức tạp; giá vật tư đầu vào tăng trong khi giá tôm nguyên liệu biến động giảm; nhận thức an toàn thực phẩm còn hạn chế; công tác quản lý môi trường và dịch bệnh bất cập. Trên cơ sở đó, chương xác định mục tiêu nghiên cứu, hệ thống 3 câu hỏi nghiên cứu, 3 giả thuyết nghiên cứu, đối tượng, phạm vi không gian, thời gian và chỉ ra ý nghĩa khoa học, thực tiễn cùng điểm mới của luận án.
Chương 2: Tổng quan tài liệu
Chương 2 tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về phương pháp đo lường hiệu quả sản xuất (SFA, DEA), các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả kinh tế (EE), hiệu quả phân phối (AE/CE) và các nhân tố ảnh hưởng trong nông nghiệp cũng như ngành tôm. Tác giả so sánh chi tiết ưu nhược điểm giữa hai phương pháp SFA và DEA, chỉ rõ SFA là lựa chọn phù hợp nhất cho nuôi tôm nước lợ do mô hình sản xuất chỉ có một đầu ra chính và chịu tác động mạnh của các yếu tố ngẫu nhiên ngoài tầm kiểm soát như thời tiết và dịch bệnh. Từ việc tổng hợp tài liệu, chương xây dựng khung nghiên cứu dựa trên lý thuyết hệ thống (Hình 2.1), kết nối nguồn lực đầu vào, hoạt động nuôi của ba mô hình (TTCTTC, TSTC, TSQCCT), đầu ra sản lượng/năng suất với các phương pháp phân tích định lượng SFA và hồi quy Tobit nhằm định hình giải pháp nâng cao hiệu quả.
Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày các khái niệm lý luận về nước mặn, nước lợ, đặc điểm sinh học và môi trường sinh thái của tôm sú và tôm thẻ chân trắng, cùng quy trình kỹ thuật nuôi tôm nước lợ theo quy chuẩn ngành (chuẩn bị ao, lắng lọc, độ sâu nước tối thiểu 1,0 m với tôm sú và 1,1 m với tôm thẻ, quản lý các chỉ tiêu DO, pH, độ mặn, độ kiềm, NH3, H2S). Chương thiết lập công thức toán học cho hàm sản xuất biên ngẫu nhiên SFA dạng Cobb-Douglas, hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên và mô hình Tobit. Chương cũng mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu tại 3 huyện/thị ven biển tỉnh Sóc Trăng, phương pháp chọn mẫu khảo sát 310 nông hộ, cùng danh mục các biến độc lập, biến phụ thuộc, kỳ vọng dấu và phương pháp phân tích tài chính kinh tế.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 là chương thực nghiệm trọng tâm của luận án, trình bày số liệu phân tích qua các nội dung chính:
- Thực trạng phát triển thủy sản Sóc Trăng: Giai đoạn 2010-2016, diện tích nuôi trồng thủy sản và sản lượng tôm nước lợ duy trì tăng trưởng, thị trường xuất khẩu mở rộng sang Mỹ, EU, Nhật Bản nhưng đối mặt với hàng rào kỹ thuật khắt khe. Năng lực chế biến xuất khẩu tăng nhưng phụ thuộc vào nguồn tôm nguyên liệu nhập khẩu.
- Thực trạng sản xuất của nông hộ: Thống kê mô tả từ 310 hộ khảo sát cho thấy năng suất tôm nuôi nước lợ bình quân đạt 2.287,37 kg/ha. Doanh thu bình quân đạt 328,42 triệu đồng/vụ/ha; chi phí sản xuất bình quân là 215,39 triệu đồng/vụ/ha; lợi nhuận bình quân đạt 113,02 triệu đồng/vụ/ha. Giá thành sản xuất tương đối cao. Nông hộ bị động về thời điểm thu hoạch (thường thu hoạch sớm khi tôm gặp rủi ro dịch bệnh), tiêu thụ hoàn toàn qua thương lái trung gian, không có hợp đồng liên kết bao tiêu và chậm nắm bắt thông tin thị trường.
- Ước lượng mô hình tôm thẻ chân trắng thâm canh (TTCTTC):
- Hàm sản xuất biên: Bốn yếu tố có hệ số ảnh hưởng tích cực đến năng suất gồm chi phí sửa chữa thiết bị dụng cụ, con giống thả nuôi, lượng thức ăn và chi phí nhiên liệu.
- Hàm lợi nhuận biên: Các yếu tố tác động tích cực đến lợi nhuận gồm chi phí sửa chữa thiết bị dụng cụ, thuốc thú y/hóa chất và chi phí nhiên liệu. Yếu tố giá chuẩn hóa thức ăn ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận.
- Mức độ phi hiệu quả: Tỷ số phương sai cho thấy 29,40% sự biến động của năng suất là do phi TE, và 99,41% sự biến động của lợi nhuận là do phi EE. TE trung bình đạt 88,99%, EE trung bình đạt 58,44%; không có hộ nào đạt mức tối đa 100%.
- Mô hình Tobit: Các yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến TE gồm diện tích mặt nước nuôi, mật độ nuôi, thời gian nuôi và tỷ lệ sống. Các yếu tố ảnh hưởng đến EE gồm mật độ nuôi, thời gian nuôi và tỷ lệ sống.
- Ước lượng mô hình tôm sú thâm canh (TSTC):
- Hàm sản xuất biên: Các yếu tố tác động tích cực đến năng suất gồm số lượng giống, số lượng thức ăn, thuốc thú y và hóa chất.
- Hàm lợi nhuận biên: Yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận gồm biến giá chuẩn hóa thức ăn và chi phí nhiên liệu.
- Mức độ phi hiệu quả: 86,79% sự biến động của năng suất là do phi TE và 59,72% sự biến động của lợi nhuận là do phi EE. TE trung bình đạt 91,73%, EE trung bình đạt 70,71%; không có hộ nào đạt mức tối ưu.
- Mô hình Tobit: Lao động và tỷ lệ sống tác động tích cực đến TE. Kinh nghiệm nuôi, mật độ nuôi, thời gian nuôi và tỷ lệ sống tác động tích cực đến EE; riêng biến nguồn thông tin tác động tiêu cực đến EE.
- Ước lượng mô hình tôm sú quảng canh cải tiến (TSQCCT):
- Hàm sản xuất biên: Yếu tố ảnh hưởng tích cực đến năng suất gồm số lượng giống, số lượng thức ăn và chi phí nhiên liệu.
- Hàm lợi nhuận biên: Chi phí nhiên liệu là yếu tố duy nhất tác động tích cực có ý nghĩa đến lợi nhuận.
- Mức độ phi hiệu quả: 20,94% sự biến động của năng suất do phi TE và 43,13% biến động lợi nhuận do phi EE. TE trung bình đạt 94,24%, EE trung bình đạt 60,99%; không có hộ nào đạt mức tối đa.
- Mô hình Tobit: Yếu tố duy nhất tác động tích cực đến TE là tỷ lệ sống. Các yếu tố ảnh hưởng đến EE gồm kinh nghiệm, diện tích mặt nước nuôi, nguồn thông tin, mật độ nuôi, thời gian nuôi và tỷ lệ sống.
- Khó khăn của nông hộ: Chi phí thức ăn, thuốc hóa chất tăng cao; thiếu vốn; chất lượng con giống trôi nổi; ô nhiễm nguồn nước cấp; dịch bệnh đốm trắng, đầu vàng, hoại tử gan tụy cấp tính; phụ thuộc thương lái và bị ép giá.
Chương 5: Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất mô hình nuôi tôm nước lợ
Dựa trên kết quả ước lượng thực nghiệm và các định hướng quy hoạch của tỉnh Sóc Trăng, chương 5 đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ:
- Giải pháp tổ chức và quản lý sản xuất: Tổ chức lại sản xuất theo hướng hợp tác xã, tổ hợp tác nhằm tạo vùng nguyên liệu tập trung; liên kết nông hộ với doanh nghiệp chế biến và đơn vị cung ứng vật tư để giảm chi phí trung gian; quy hoạch đồng bộ hạ tầng thủy lợi riêng biệt kênh cấp và thoát nước.
- Giải pháp ứng dụng khoa học công nghệ: Tăng cường tập huấn kỹ thuật quản lý môi trường nước, kỹ thuật cho ăn theo nhu cầu để tránh lãng phí thức ăn (giảm FCR); áp dụng quy trình nuôi an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh; kiểm định chất lượng tôm giống bằng kỹ thuật PCR trước khi thả nuôi.
- Giải pháp về thị trường: Xây dựng hệ thống thông tin thị trường giá vật tư và giá tôm nguyên liệu minh bạch; thiết lập chuỗi liên kết giá trị gắn kết hợp đồng tiêu thụ giữa người nuôi và nhà máy chế biến xuất khẩu; hỗ trợ nông hộ áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng đáp ứng rào cản kỹ thuật quốc tế.
- Giải pháp về cơ chế chính sách: Tăng cường nguồn vốn tín dụng ưu đãi cho nông hộ nuôi tôm; thực hiện bảo hiểm nông nghiệp đối với nuôi thủy sản nước lợ nhằm giảm thiểu rủi ro thiên tai dịch bệnh; siết chặt quản lý nhà nước về giá và chất lượng vật tư, thuốc thú y thủy sản lưu thông trên địa bàn.
- Giải pháp đối với nông hộ nuôi tôm nước lợ: Tuân thủ lịch thời vụ khuyến cáo của cơ quan quản lý; lựa chọn mật độ nuôi phù hợp với từng mô hình (không thả quá dày); chủ động ghi chép nhật ký ao nuôi và theo dõi định kỳ các chỉ tiêu môi trường nước.
Chương 6: Kết luận và kiến nghị
Chương 6 tổng kết toàn bộ các phát hiện định lượng của luận án, khẳng định ba mô hình nuôi tôm nước lợ tại Sóc Trăng đều chưa đạt mức hiệu quả kỹ thuật và kinh tế tối ưu. Năng suất và lợi nhuận còn dư địa cải thiện rất lớn nếu khắc phục được tính phi hiệu quả trong quản lý chi phí đầu vào (đặc biệt là thức ăn và nhiên liệu) và nâng cao tỷ lệ sống của tôm. Chương đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với nông hộ, hàm ý chính sách cho chính quyền địa phương tỉnh Sóc Trăng và định hướng các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án mang lại các đóng góp mới về mặt lý luận khoa học và thực tiễn sản xuất:
- Về mặt lý luận: Bổ sung vào hệ thống tài liệu nghiên cứu kinh tế thủy sản tại Đồng bằng sông Cửu Long việc ứng dụng tích hợp hàm sản xuất biên ngẫu nhiên (SFA) Cobb-Douglas, hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên và mô hình hồi quy Tobit để phân tích đồng thời ba mô hình nuôi tôm nước lợ (TTCTTC, TSTC, TSQCCT). Nghiên cứu định lượng hóa chính xác tỷ lệ thất thoát năng suất và lợi nhuận do các yếu tố phi hiệu quả kỹ thuật và phi hiệu quả kinh tế gây ra thay vì chỉ đánh giá tài chính mô tả như các nghiên cứu trước.
- Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng chi tiết về hiệu quả kinh tế kỹ thuật của 310 nông hộ tại ba huyện ven biển trọng điểm tỉnh Sóc Trăng (Mỹ Xuyên, Trần Đề, TX Vĩnh Châu).
- Xác định rõ mức độ TE và EE của từng mô hình: mô hình TSQCCT có TE trung bình cao nhất (94,24%) nhưng EE chỉ đạt 60,99%; mô hình TTCTTC có mức biến động lợi nhuận do phi hiệu quả kinh tế lên tới 99,41% với EE bình quân đạt 58,44%; mô hình TSTC đạt TE bình quân 91,73% và EE bình quân 70,71%.
- Luận án chứng minh thực nghiệm rằng 100% nông hộ trong mẫu khảo sát đều chưa đạt được mức hiệu quả kỹ thuật và kinh tế tối đa.
Bảng tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật và hiệu quả sản xuất của ba mô hình nuôi tôm:
| Chỉ tiêu phân tích |
Mô hình TTCTTC |
Mô hình TSTC |
Mô hình TSQCCT |
Bình quân chung |
| Năng suất bình quân (kg/ha) |
- |
- |
- |
2.287,37 |
| Doanh thu bình quân (triệu đồng/vụ/ha) |
- |
- |
- |
328,42 |
| Chi phí sản xuất bình quân (triệu đồng/vụ/ha) |
- |
- |
- |
215,39 |
| Lợi nhuận bình quân (triệu đồng/vụ/ha) |
- |
- |
- |
113,02 |
| Mức hiệu quả kỹ thuật trung bình (TE) |
88,99% |
91,73% |
94,24% |
- |
| Mức hiệu quả kinh tế trung bình (EE) |
58,44% |
70,71% |
60,99% |
- |
| Biến động năng suất do phi TE ($\gamma$ năng suất) |
29,40% |
86,79% |
20,94% |
- |
| Biến động lợi nhuận do phi EE ($\gamma$ lợi nhuận) |
99,41% |
59,72% |
43,13% |
- |
| Tỷ lệ nông hộ đạt TE, EE tối ưu (100%) |
0,00% |
0,00% |
0,00% |
0,00% |
| Yếu tố đầu vào tích cực đến năng suất |
Thiết bị, giống, thức ăn, nhiên liệu |
Giống, thức ăn, thuốc/hóa chất |
Giống, thức ăn, nhiên liệu |
- |
| Yếu tố tác động đến hiệu quả kỹ thuật (TE) |
Diện tích ao, mật độ, thời gian nuôi, tỷ lệ sống |
Lao động, tỷ lệ sống |
Tỷ lệ sống |
- |
| Yếu tố tác động đến hiệu quả kinh tế (EE) |
Mật độ, thời gian nuôi, tỷ lệ sống |
Kinh nghiệm, mật độ, thời gian, tỷ lệ sống, thông tin (-) |
Kinh nghiệm, diện tích, thông tin, mật độ, thời gian, tỷ lệ sống |
- |
(Ghi chú: Dấu (-) thể hiện tác động tiêu cực; số liệu trích xuất từ kết quả ước lượng tại Tóm tắt và Chương 4 của luận án).
Hệ thống kiến nghị và giải pháp đề xuất: Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp tập trung vào tổ chức quản lý chuỗi liên kết sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ kiểm soát dịch bệnh, minh bạch thông tin thị trường đầu vào - đầu ra, hoàn thiện cơ chế chính sách tín dụng/bảo hiểm thủy sản và chuẩn hóa quy trình kỹ thuật nuôi cho nông hộ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án được tác giả tự xác định bao gồm:
- Luận án chỉ tập trung khảo sát mẫu 310 nông hộ nuôi tôm trực tiếp tại ba địa bàn ven biển (Mỹ Xuyên, Trần Đề, Vĩnh Châu), chưa nghiên cứu tổng thể toàn bộ địa bàn tỉnh do giới hạn về nguồn lực và thời gian.
- Luận án chưa khảo sát, phân tích các tác nhân cung ứng vật tư đầu vào (con giống, thức ăn, thuốc thủy sản) cũng như các cơ sở thu mua, sơ chế, chế biến xuất khẩu trong toàn chuỗi giá trị sản phẩm tôm nuôi nước lợ.
- Luận án chưa đưa trực tiếp các yếu tố ngoại sinh thuộc về môi trường tự nhiên (chất lượng thổ nhưỡng, độ mặn nguồn nước biến động theo mùa, biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan) vào mô hình kinh tế lượng ước lượng, mặc dù các yếu tố này nằm ngoài tầm kiểm soát của nông hộ nhưng có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và lợi nhuận.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phân tích toàn diện chuỗi giá trị ngành hàng tôm nước lợ, tích hợp phân tích hành vi và biên lợi nhuận của các đại lý vật tư và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu.
- Bổ sung các biến số đo lường rủi ro môi trường tự nhiên, biến đổi khí hậu và dịch bệnh vào hàm biên ngẫu nhiên để đánh giá toàn diện hơn mức độ phi hiệu quả.
- Thu thập dữ liệu bảng (panel data) qua nhiều vụ nuôi liên tiếp nhằm kiểm soát các biến động thời gian và tính mùa vụ của nghề nuôi tôm.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế tài nguyên và Nuôi trồng thủy sản: Luận án cung cấp một khung phân tích hoàn chỉnh kết hợp giữa hàm sản xuất biên ngẫu nhiên (SFA) Cobb-Douglas, hàm lợi nhuận biên và mô hình hồi quy Tobit trong Chương 3 và Chương 4. Đây là quy trình nghiên cứu chuẩn mực cho các đề tài định lượng đo lường hiệu quả kinh tế kỹ thuật cấp nông hộ.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý nông nghiệp (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sóc Trăng, Chi cục Thủy sản, Sở Công Thương): Luận án cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về nguyên nhân gây tổn thất lợi nhuận của nông hộ (như giá chuẩn hóa thức ăn, tỷ lệ tôm nguyên liệu nhập khẩu tăng cao, sự phụ thuộc vào thương lái trung gian). Hệ thống 5 nhóm giải pháp tại Chương 5 là căn cứ thực tế để xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển vùng nuôi tôm tập trung, đầu tư thủy lợi và quản lý chất lượng vật tư.
- Đối với cán bộ khuyến nông và nông hộ nuôi tôm nước lợ: Các phân tích về mối quan hệ giữa mật độ nuôi, thời gian nuôi, chi phí thức ăn và tỷ lệ sống đối với TE và EE giúp nông hộ điều chỉnh quy trình nuôi, tránh thả giống quá dày và kiểm soát chi phí thức ăn nhằm tối ưu hóa lợi nhuận.
Câu hỏi thường gặp
-
Năng suất, doanh thu, chi phí và lợi nhuận bình quân của các hộ nuôi tôm nước lợ tại Sóc Trăng theo khảo sát đạt mức bao nhiêu?
Theo số liệu khảo sát 310 nông hộ trong luận án, năng suất bình quân đạt 2.287,37 kg/ha; doanh thu bình quân đạt 328,42 triệu đồng/vụ/ha; chi phí sản xuất bình quân là 215,39 triệu đồng/vụ/ha; và lợi nhuận bình quân đạt 113,02 triệu đồng/vụ/ha.
-
Mức hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả kinh tế (EE) của ba mô hình nuôi tôm nước lợ chênh lệch như thế nào?
Mô hình tôm thẻ chân trắng thâm canh (TTCTTC) có TE trung bình đạt 88,99% và EE trung bình đạt 58,44%. Mô hình tôm sú thâm canh (TSTC) có TE trung bình đạt 91,73% và EE trung bình đạt 70,71%. Mô hình tôm sú quảng canh cải tiến (TSQCCT) có TE trung bình đạt 94,24% và EE trung bình đạt 60,99%. Cả ba mô hình đều không có nông hộ nào đạt mức hiệu quả kỹ thuật và kinh tế tối ưu (100%).
-
Biến động lợi nhuận của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh do yếu tố phi hiệu quả kinh tế chiếm bao nhiêu phần trăm?
Kết quả ước lượng hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên cho thấy 99,41% sự biến động trong lợi nhuận của nông hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh là do mức độ phi hiệu quả kinh tế (phi EE) tạo ra, và biến giá chuẩn hóa thức ăn là yếu tố có tác động tiêu cực đến lợi nhuận của mô hình này.
-
Nguồn số liệu sơ cấp của luận án được thu thập ở đâu và vào thời gian nào?
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 310 nông hộ nuôi tôm nước lợ tại ba địa bàn ven biển trọng điểm của tỉnh Sóc Trăng gồm huyện Mỹ Xuyên, huyện Trần Đề và thị xã Vĩnh Châu. Thời gian khảo sát tập trung vào vụ thu hoạch tôm gần nhất kết thúc vào tháng 6 và tháng 7 năm 2016.
-
Những yếu tố kỹ thuật và nông hộ nào tác động có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả kinh tế (EE) của cả ba mô hình?
Qua phân tích hồi quy Tobit, hai biến số kỹ thuật có ảnh hưởng đồng thời đến hiệu quả kinh tế (EE) của cả ba mô hình là mật độ nuôi và tỷ lệ sống của tôm nuôi. Ngoài ra, biến kinh nghiệm của chủ hộ tác động tích cực đến EE ở hai mô hình TSTC và TSQCCT.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Trần Ngọc Tùng đã phân tích thực trạng kinh tế kỹ thuật và đo lường hiệu quả sản xuất của ba mô hình nuôi tôm nước lợ ven biển tỉnh Sóc Trăng thông qua phương pháp hàm biên ngẫu nhiên SFA và mô hình hồi quy Tobit. Kết quả nghiên cứu khẳng định các nông hộ nuôi tôm chưa khai thác hết tiềm năng biên sản xuất, trong đó mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh chịu tổn thất lợi nhuận rất lớn do phi hiệu quả kinh tế (99,41%). Hệ thống 5 nhóm giải pháp từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật, thị trường, cơ chế chính sách đến quản lý nông hộ cung cấp căn cứ thực tiễn để nâng cao thu nhập cho người nuôi tôm và thúc đẩy phát triển bền vững ngành hàng tôm nước lợ tại địa phương.