CHƯƠNG 1 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT DỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN 1. Công ty chứng khoán: 1. Khái niệm: Công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập theo pháp luật Việt Nam để kinh doanh chứng khoán theo giấy phép kinh doanh chứng khoán do Uỷ ban chứng khoán nhà nước cấp, được thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bão lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán. Công ty chứng khoán là một định chế tài trung gian chuyên kinh doanh chứng khoán, là đơn vị có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc lập.
Phân loại công ty chứng khoán : 1. Theo hình thức tổ chức hoạt đông của công ty chứng khoán. Chia theo hình thức tổ chức hoạt động thì hiện nay công ty chứng khoán có ba loại hình đó là công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh • Công ty cổ phần. Công ty cổ phần là một pháp nhân dộc lập, các thành viên góp vốn gọi là các cổ đông.
Các cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn góp của mình. Dựa trên số lượng cổ phần nắm giữ mà Đại hội cổ đông bầu ra hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị và ban giám đốc. Giám đốc chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị trước tình TRẦN VĂN TUẤN LỚP :CQ46/17.02 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH hình hoạt động kinh doanh của công ty.theo loại hình này ở Việt Nam có một số công ty chưng khoan sau : Công ty cổ phần chưng khoán Bảo Việt, công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn, công ty cổ phần chứng khoán Thăng Long … • Công ty trách nhiệm hữu hạn ( TNHH) Đây là loại hình công ty mà theo đó các thành viên góp vốn phải chịu trách nhiệm giớ hạn trong số vốn mà họ đã góp. Công ty TNNH có hai loại hình chính đó là công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH nhiều thành viên.
Tùy theo lượng vốn góp của các bên mà xác định chức chủ tịch hội đòng quản trị. Ưu điểm của loại hình công ty này là có thể huy động vốn dễ dàng thông qua việc bổ xung vốn của các thành viên góp vốn hoặc huy động vốn trên thị trường chứng khoán thông qua việc phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu. Theo loại hình này có một số công ty chunwhs khoán như : Công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam, Công ty TNHH chứng khoán ngân hàng ngoại thương Việt Nam, công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam… • Công ty hợp danh. Là công ty có từ hai thành viên góp vốn tạo nên.
Tùy vào số vốn góp của các bên tham gia mà xác định thành viên ban giám đốc. Thành viên thanm gia vào việc điều hành công ty được gọi là thành viên hợp danh. Các thành viên phải chịu trách nhiệm vô hạn về những nghĩa vụ tài chính của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình. Ngược lại các thành viên không tham gia điều hành công ty được gọi là thành viên góp vốn, họ chỉ chịu trách nhiệm về những khoản nợ của công ty trong giới hạn phần vốn góp của mình vào công ty.
Theo hình thức kinh doanh. Nếu phân chia theo tiêu thức này thì có 6 loại công ty chứng khoán : • Công ty môi giới: loại công ty này còn được gọi là công ty thành viên vì nó là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán. Công việc kinh doanh chủ TRẦN VĂN TUẤN LỚP :CQ46/17.02 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH yếu là mua và bán chứng khoán cho khách hàng của họ trên Sở giao dịch chứng khoán mà công ty đó là thành viên. • Công ty đầu tư ngân hàng: loại công ty này phân phối mới được phát hành cho công chúng qua việc mua bán chứng khoán do công ty cổ phần phát hành và bán lại cho công chúng theo giá tính gộp cả lợi nhuận của công ty.
Vì vậy công ty này còn được gọi là nhà bảo lãnh phát hành. • Công ty giao dịch phi tập trung: công ty này mua bán chứng khoán tại thị trường OTC. • Công ty dịch vụ đa năng: Những công ty này không bị giới hạn hoạt động ở một lĩnh vực nào của ngành công nghiệp chứng khoán. Ngoài 3 dịch vụ trên họ còn cung cấp cho khách hàng dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán, ủy nhiệm các giao dịch buôn bán cho khách hàng trên thị t rường OTC.
Sự kết hợp giữa các sản phẩm và kinh nghiệm của công ty sẽ quyết dịnh cơ sở các dịch vụ mà họ có thể cung cấp cho khách hàng. • Công ty buôn bán chứng khoán: là công ty đúng ra mua bán chứng khoán với chi phí do công ty tự chịu, công ty này phải cố gắng bán chứng khoán với giá cao hơn giá mua vào. Vì vậy loại công ty nay hoạt động với tư cách là người ủy thác chứ không phải là đại lý nhận ủy thác. • Công ty buôn bán chứng khoán không nhận hoa hồng: Đây là loại hình công ty mà theo đó công ty nhận chênh lệch giá qua việc mua bán chứng khoán, do đó họ còn được gọi là nhà tạo lập thị trường, nhất là trên thị trường giao dịch OTC.
Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán cơ cấu của một công ty chứng khoán có thể được xây dựng từ đơn giản đến phức tạp tùy thuộc vào quy mô của thị trường, phương thúc của chủ sở hữu, khách hàng… Khi TTCK chưa phát triển, CTCK có cơ cấu và hoạt động đơn giản , khi thị trường phát triển thì hoạt động của các CTCK sẽ ngày càng phức tạp và sôi động. TRẦN VĂN TUẤN LỚP :CQ46/17.02 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH cơ cấu tổ chức, quy mô kinh doanh cũng như các nghiệp vụ mà CTCK được phép hoạt động tùy thuộc vào tính chất sở hữu của công ty. Cơ quan quyền lực cao nhất của CTCK là hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị bổ nhiệm Ban giám đốc và giám đốc điều hành công ty.
Giúp việc cho Hội đồng quản trị có Ban kiểm soát, có nhiệm vụ theo dõi và kiểm soát tất cả các giao dịch chứng khoán. Theo thông lệ quốc tế, cơ cấu tổ chức của một CTCK gồm các phòng chủ yếu sau: Phòng giao dịch Phòng giao dịch thực hiện các giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán và OTC. Chức năng chính của phòng này là nhận và thực hiện giao dịch tại sở đối với lệnh giao dịch. Thông thường phòng giao dịch bao gồm 3 bộ phận sau: Bộ phận môi giới cho khách hàng Bộ phận tự doanh Bộ phận nghiên cứu và phân tích chứng khoán Phòng kế toán- Tài chính,gồm 2 bộ phận chủ yếu là: Bộ phận Kế toán: xử lý các hợp đồng và tài liệu giao dịch , soạn thảo, in ấn, gửi cho khách hàng, nhận tài liệu khách hàng, lưu trữ các hợp đồng,chứng từ,lệnh… Bộ phận Tài chính: quản lý tài chính của công ty thông qua các tài khoản chứng khoán và tiền, quản lý việc cho khách hàng vay tiền đầu tư vào chứng khoán… Phòng Maketing : quan hệ với khách hàng của công ty và nhận lệnh Phòng Quản trị hành chính tổng hợp Phòng lưu ký, đăng ký, lưu trữ Phòng quản lý tài sản TRẦN VĂN TUẤN LỚP :CQ46/17.02 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH Nhiều CTCK có trụ sở chính ở một thành phố, chi nhánh ở các thành phố khác.
Các khách hàng có thể chuyển lệnh của mình qua trị sở chính hoặc chi nhánh. Các phòng này đem lại nguồn thu nhập cho CTCK bằng cách đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tạo ra sản phẩm phù hợp với các nhu cầu đó. Vai trò của CTCK CTCK là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của TTCK nói riêng. Nhờ các CTCK mà các chứng khoán được lưu thông từ nhà phát hành tới các NĐT qua đó huy động các nguồn vốn nhãn rỗi để phân bổ vào những nơi sử dụng có hiệu quả.
CTCK có vai quan trọng đối với các chủ thể khác nhau tham gia trên TTCK. Đối với tổ chức phát hành: Mục tiêu khi tham gia vào TTCK của các TCPH là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Vì vậy thông qua hoạt động BLPH và đại lý phát hành, CTCK có vai trò quan trọng trong việc phát hành các cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng, tạo ra cơ chế huy động vốn cho nhà phát hành. Nhờ có CTCK các chứng khoán của TCPH có uy tín hơn và dễ dàng giao dịch hơn trên thị trường, góp phần làm tăng tính thanh khoản của chứng khoán phát hành.
Ngoài ra các CTCK còn hỗ trợ về chuyên môn thông qua việc tư vấn phát hành, cung cấp cho doanh nghiệp các giải pháp tổng hợp về vấn đề tài chính, cơ cấu tổ chức công ty, lập và đánh giá dự án, xác định giá trị doanh nghiệp, quản lý tài sản và định hướng đầu tư… Đối với các nhà đầu tư: Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư… CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư. Đối với các hàng hóa thông thường, việc mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và người bán. Tuy TRẦN VĂN TUẤN LỚP :CQ46/17.02 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH nhiên đối với TTCK, với tính chuyên nghiệp và trình độ chuyên môn cao, CTCK sẽ giúp các NĐT thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả. TTCK là một thị trường thường xuyên biến động về giá cả cũng như mức độ rủi ro cao, nếu muốn đầu tư thì NĐT sẽ phải tốn kém một khoản chi phí, công sức, thời gian để tìm hiểu thông tin trước khi đưa ra quyết định đầu tư.