chương 1, luật số 26 quy định “ngân hàng là một bộ phận quan trọng của việc kinh doanh bao gồm nhận tiền gửi và tạo ra các khoản cho vay và chiết khấu, hoặc thực hiện quyền ủy thác khác.và chịu sự kiểm tra và giám sát bởi các cơ quan quản lý của Bang, hoặc liên Bang có trách nhiệm giám sát các tổ chức hoạt động ngân hàng”. Tại Thụy Sỹ, Sắc lệnh về ngân hàng và tiết kiệm ngân hàng quy định “ngân hàng là công ty hoạt động trong khu vực tài chính và phải thỏa a) nhận tiền gửi từ công chúng; hoặc b) nhận các khoản vay từ các ngân hàng khác mà các ngân hàng cho vay không nắm giữ bất kỳ cổ phần quan trọng nào trong ngân hàng đi vay, để tránh việc tài trợ cho chính ngân hàng đi vay trong bất kỳ tình huống nào”. Tại Việt Nam, ngoài quy định về nhận tiền gửi và cung ứng tín dụng như các nước khác, khoản 12, điều 4, luật các tổ chức tín dụng 47/2010/QH12 còn quy định một tổ chức được gọi là ngân hàng nếu nó có hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Về thuật ngữ NHTM (commercial bank) ra đời đầu tiên tại Mỹ vào năm 1933 sau khi Quốc hội Mỹ thông qua đạo luật Glass-Steagall nhằm tách hoạt động ngân hàng thành hai nhóm: ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư (Carpenter và ctg, 2016).
Theo đó, NHTM chỉ chung cho các tổ chức tài chính nhận ký gửi và cho vay nhưng không được phát hành chứng khoán ngoại trừ trái phiếu đô thị, trái phiếu Chính phủ (Heffernan, 2005, 20) trong khi ngân hàng đầu tư bị giới hạn trong các hoạt động trên thị trường vốn. Và trong đạo luật đó, NHTM được dùng chỉ chung cho “ngân hàng”, “tổ chức nhận ký gửi” (depository institution). Tại Việt Nam, khoản 2, điều 4, luật các tổ chức tín dụng 47/2010/QH12 chia ngân hàng theo tính chất và mục tiêu hoạt động, theo đó có 03 loại hình là NHTM, ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã. Tuy nhiên, về bản chất, NHTM vẫn có các hoạt động ngân hàng như khái niệm đã nêu phía trên.
Các hoạt động chủ yếu tại ngân hàng thƣơng mại Về cơ bản, theo khoản 12, điều 4, luật các tổ chức tín dụng 2010 (văn bản số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 – gọi tắt là Luật TCTD) quy định rõ hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên các nghiệp vụ i) nhận tiền gửi; ii) cấp tín dụng và iii) cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Như vậy, các nghiệp vụ trên lần lượt đại diện cho nghiệp vụ tài sản, nguồn vốn và ngoại bảng trên bảng cân đối kế toán của một NHTM. Ngoài ra, tùy vào điều kiện của mỗi NHTM mà có thêm những nghiệp vụ khác được cung ứng nhằm tối đa hóa nguồn lực. Hoạt động ngân hàng liên quan đến nguồn vốn Đây là các hoạt động nhằm tài trợ cho hoạt động tài sản của một NHTM.
Nguồn vốn được cấu thành từ các khoản huy động vốn, vốn vay trên thị trường tài chính và vốn tự có của NHTM. Nguồn vốn huy động: là tài sản bằng tiền của các doanh nghiệp, cá nhân do NHTM tạm thời quản lý và sử dụng. Thông thường, vốn huy động có tỷ trọng chủ yếu do tính đặc thù trong hoạt động của NHTM là người đi vay để cho vay lại. Do đó, đây là nghiệp vụ cơ bản và quan trọng nhất mà NHTM chú ý để tạo nguồn hoạt động.
Các quy định của Luật TCTD cho phép NHTM được phát hành các loại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn cùng với việc ấn định và niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn. Vốn vay trên thị trường liên ngân hàng: là quan hệ tín dụng giữa các NHTM nhằm tạo ra nguồn vốn cho NHTM đi vay thông qua các hình thức vay qua đêm, tái chiết khấu, hợp đồng mua lại (Repurchase Agreement – Repo). Thông thường, nguồn vốn này chủ yếu đáp ứng mục tiêu tăng khả năng thanh khoản cho NHTM hơn là sử dụng cho hoạt động tín dụng (Bùi Diệu Anh, 2013, 33 – 34) Vốn tự có: nguồn vốn này tuy chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu nguồn của một NHTM nhưng nó có vai trò quan trọng với các chức năng i) bảo vệ NHTM trước những rủi ro trong quá trình kinh doanh (đệm vốn) ii) điều chỉnh để xác định các tỷ lệ an toàn như giới hạn cấp tín dụng. và iii) cơ sở cấp giấy phép hoạt động, thiết lập mạng lưới.
Theo khoản 10, điều 4, Luật TCTD, vốn tự có bao gồm vốn điều lệ và các quỹ dự trữ. Nguồn vốn điều lệ: theo định nghĩa của khoản 29, điều 4, Luật doanh nghiệp 2014 (văn bản số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014) là “tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần”. Đối với các NHTM, vốn điều lệ là điều kiện cần để một NHTM được phép hoạt động; và theo điểm a, khoản 1, điều 20 Luật TCTD quy định không thấp hơn vốn pháp định 3.000 tỷ đồng của Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006. Các quỹ dự trữ: được trích từ lợi nhuận sau thuế của NHTM nhằm mục đích bù đắp các tổn thất, thiệt hại về tài sản xảy ra trong quá trình kinh doanh.
Trong đó, có 02 loại quỹ chính là quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và quỹ dự phòng tài chính. Theo điều 139 của Luật TCTD và điều 23, Nghị định 57/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012, các quỹ trên lần lượt được trích từ 5% và 10% lợi nhuận sau thuế. Hoạt động ngân hàng liên quan đến tài sản Đây là hoạt động sử dụng các nguồn vốn đã hình thành của NHTM hay nói cách khác là hoạt động tài sản trên bảng cân đối của NHTM. Tùy vào chiến lược, vị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 thế, khả năng của mỗi NHTM quyết định mức đa dạng của việc sử dụng vốn khác nhau.
Các hoạt động sử dụng vốn thường bao gồm: Hoạt động ngân quỹ: hoạt động này được thực hiện dưới dạng các khoản dự trữ bằng tiền mặt, tiền gửi tại NHNN, tiền gửi tại NHTM khác. Nghiệp vụ này có mục đích nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của NHTM trong trường hợp cần thanh toán nên khả năng sinh lời thấp. Vì thế, các NHTM luôn tính toán để có số dư tổi thiểu, dành nguồn vốn cho hoạt động sinh lời khác. Hoạt động cho vay: bao gồm cho vay các TCTD khác và cho vay khách hàng (cá nhân, doanh nghiệp) trong nền kinh tế.
Hoạt động này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động của NHTM bởi vì phản ánh đặc điểm cơ bản của NHTM là trung gian tài chính. Sự chuyển hóa nguồn vốn huy động thành vốn tín dụng để bổ sung nhu cầu sản xuất, kinh doanh, thương mại của nền kinh tế có ý nghĩa quan trọng với tăng trưởng, đặc biệt với các quốc gia phụ thuộc nguồn tài trợ này. Mặt khác, ở phạm vi nhỏ hơn, sự khơi thông dòng vốn tín dụng mang lại nguồn thu nhập cho NHTM, bù đắp lại chi phí trả lãi tiền gửi cho người gửi tiền, chi phí quản lý kinh doanh trong hoạt động và lợi nhuận cho chủ sở hữu (trong đó có cả phần vốn giữ lại tái đầu tư dưới dạng các quỹ trích lập từ lợi nhuận như đã đề cập ở trên). Hoạt động cho vay có thể được phân loại khác nhau theo mục đích quản lý khác nhau, có thể dựa vào: thời hạn của khoản vay (ngắn, trung, dài hạn), ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, bất động sản), thành phần kinh tế (doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, hợp tác xã), hình thức bảo đảm (có bảo đảm bằng tài sản, không có bảo đảm bằng tài sản).
Hoạt động đầu tư: NHTM dùng nguồn vốn để đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận. Cụ thể, NHTM đầu tư trực tiếp thông qua việc góp vốn liên doanh, liên kết để thành lập các pháp nhân hoặc bổ sung vốn cho các pháp nhân có sẵn (ví dụ: thành lập công ty con trực thuộc NHTM, mua cổ phần của công ty khác). Vì thực hiện hoạt động này cũng gây ra rủi ro lớn cho NHTM, hơn nữa, có thể gây ra việc sở hữu chéo giữa các NHTM, nên pháp luật quản lý hoạt động này khá chặt chẽ. Ví dụ, khoản 1, điều 103 Luật TCTD quy định: NHTM chỉ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 được dùng vốn điều lệ, quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần và mức góp này không vượt quá 11% vốn điều lệ của công ty nhận vốn góp (điều 129, Luật TCTD).
NHTM đầu tư gián tiếp bằng cách mua các loại chứng khoán nợ như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty nhằm hưởng lãi suất, thu lợi nhuận từ các loại chứng khoán này. Hoạt động theo sự ủy thác của khách hàng Đây là hoạt động phát sinh theo sự ủy nhiệm của khách hàng, ví dụ: dịch vụ két sắt, ủy thác, tư vấn, cam kết. Đặc điểm của loại hoạt động này là không ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn vốn hay tài sản khi thực hiện, tuy nhiên, nếu rủi ro xảy ra thì tổn thất sẽ ảnh hưởng tới bảng cân đối thông qua việc trích lập xử lý rủi ro. Ví dụ, khoản 4, điều 10, Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 (gọi tắt Thông tư 02) quy định các cam kết ngoại bảng cũng được phân loại nhóm nợ tương tự như các khoản cho vay nhằm tiến hành xử lý rủi ro khi có tổn thất.
Một đặc điểm khác của hoạt động ngoại bảng là có một số hoạt động như môi giới chứng khoán, bảo hiểm, NHTM không được trực tiếp thực hiện mà phải thành lập công ty con để thực hiện (khoản 2, điều 103, Luật TCTD) 1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại 1. Đối tượng kinh doanh là các công cụ tài chính Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 32 (IAS 32) do Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) sửa đổi năm 2012, công cụ tài chính bao gồm tài sản tài chính, nghĩa vụ tài chính và công cụ vốn khác.